Tình trạng dễ bầm tím

TÓM TẮT

Nguyên nhân – Nguyên nhân gây bầm tím có thể được phân loại rộng rãi thành các rối loạn mạch máu và mô xung quanh, bất thường tiểu cầu và các rối loạn đông máu (bảng 1). (Xem ‘Nguyên nhân’ ở dưới.)

Bệnh sử – Trong đánh giá tình trạng dễ bầm tím, việc khai thác bệnh sử và thăm khám lâm sàng ban đầu thường hữu ích hơn so với các xét nghiệm cận lâm sàng. Cần khai thác kỹ về các chấn thương liên quan, vị trí và mức độ bầm tím, tiền sử xuất huyết sau các thủ thuật trước đó, việc sử dụng thuốc, tình trạng dinh dưỡng và tiền sử gia đình. (Xem ‘Bệnh sử’ ở dưới.)

Thăm khám lâm sàng – Đặc điểm hình thái của các vết bầm có thể hỗ trợ chẩn đoán nguyên nhân cơ bản. Cần phân biệt vết bầm với xuất huyết chấm (petechiae) và xuất huyết dát (purpura) – những tổn thương cũng có thể xuất hiện đồng thời. Các dấu hiệu lâm sàng khác như hạch lympho to hoặc gan lách to cũng giúp khu trú chẩn đoán. (Xem ‘Thăm khám lâm sàng’ ở dưới.)

Xét nghiệm cận lâm sàng – Đánh giá cận lâm sàng trong trường hợp bầm tím nên được xem là phương pháp bổ trợ sau khi đã khai thác bệnh sử và thăm khám lâm sàng kỹ lưỡng. Thông thường, không cần làm xét nghiệm đối với những bệnh nhân thỏa mãn tất cả các tiêu chuẩn sau (sơ đồ 1):

  • Vết bầm phân bố chủ yếu ở các chi xa, đặc biệt nếu có chấn thương đi kèm
  • Không có bằng chứng xuất huyết khác (ví dụ: chảy máu cam tái diễn, chảy máu nướu, xuất huyết khớp)
  • Không có tiền sử bản thân hoặc gia đình có tình trạng xuất huyết nghiêm trọng không rõ nguyên nhân
  • Không có xuất huyết chấm
  • Không có dấu hiệu hoặc triệu chứng gợi ý bệnh gan giai đoạn tiến triển hoặc suy dinh dưỡng

Đối với tất cả các bệnh nhân khác, cần thực hiện các xét nghiệm cơ bản bao gồm: tổng phân tích tế bào máu ngoại vi (CBC) với công thức bạch cầu và số lượng tiểu cầu, thời gian prothrombin (PT) và thời gian thromboplastin một phần hoạt hóa (aPTT).

Theo dõi – Nếu các xét nghiệm ban đầu cho kết quả bình thường, nên tầm soát bệnh von Willebrand, đặc biệt ở những bệnh nhân sắp thực hiện các thủ thuật gây thách thức cầm máu (ví dụ: phẫu thuật, nhổ răng). Các xét nghiệm trộn (mixing studies) và định lượng yếu tố đông máu giúp xác định bệnh nhân thiếu hụt yếu tố đông máu hay có chất ức chế yếu tố. Những xét nghiệm này được chỉ định khi kết quả PT hoặc aPTT bất thường. (Xem ‘Xét nghiệm cận lâm sàng’ ở dưới.)

Xét nghiệm chức năng tiểu cầu – Đánh giá chức năng tiểu cầu (ví dụ: xét nghiệm ngưng tập tiểu cầu) có giá trị trong việc thăm dò những bệnh nhân dễ bầm tím có kết quả xét nghiệm cơ bản và hiển vi điện tử tiểu cầu bình thường. Không khuyến cáo sử dụng xét nghiệm thời gian máu chảy (bleeding time). (Xem ‘Xét nghiệm chức năng tiểu cầu’ ở dưới.)

Chỉ định chuyển tuyến – Bệnh nhân có bất kỳ đặc điểm nào sau đây cần được chuyển tuyến đến bác sĩ huyết học (xem ‘Theo dõi và chuyển tuyến’ ở dưới):

  • Tiếp tục bầm tím mức độ nghiêm trọng (có từ 5 vết bầm trở lên với đường kính lớn hơn 1 cm) mà không rõ nguyên nhân chấn thương
  • Tiền sử bản thân hoặc gia đình có bất thường về cầm máu sau phẫu thuật hoặc chấn thương
  • Xuất huyết kèm theo ở các vị trí khác (ví dụ: chảy máu cam tái diễn, chảy máu nướu, xuất huyết khớp)
  • Kết quả xét nghiệm bất thường gợi ý tình trạng tăng xu hướng xuất huyết (bleeding diathesis)

Gói truy cập

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật liên tục.
  • Thanh toán nhanh chóng và an toàn bằng mã VietQR.
Already a member? Log in here