TS. Charlotte Wessel Skovlund (Cơ quan Dược phẩm Đan Mạch, Copenhagen) cùng các cộng sự nhấn mạnh: “These findings are considered relevant information for the treated women and the prescribing physicians” (tạm dịch: “Những phát hiện này cung cấp thông tin thiết thực cho cả người phụ nữ sử dụng thuốc lẫn các bác sĩ lâm sàng khi kê đơn”).

Nhóm nghiên cứu phân tích thêm: “[a]lthough an increased risk of meningioma has been established for several high-dose progestogens, conflicting evidence for hormonal contraceptives remains, with most studies evaluating broad categories such as oral contraceptives or intrauterine devices” (tạm dịch: “Mặc dù mối liên quan giữa nguy cơ u màng não với một số progestogen liều cao đã được xác lập, nhưng bằng chứng về các biện pháp tránh thai nội tiết vẫn còn nhiều mâu thuẫn, do phần lớn các nghiên cứu trước đây chỉ đánh giá chung chung theo nhóm lớn như thuốc tránh thai đường uống hoặc dụng cụ tử cung”).

Để làm sáng tỏ vấn đề, các nhà nghiên cứu đã tổng hợp dữ liệu của 3 triệu phụ nữ trong độ tuổi 15–59 tại Đan Mạch từ tháng 1/2000 đến tháng 12/2024. Nhóm nghiên cứu xác định được 1.473 phụ nữ có chẩn đoán u màng não (tuổi trung vị là 48) và bắt cặp với 14.717 phụ nữ chứng không mắc bệnh lý này dựa theo độ tuổi, nơi sinh và tình trạng hôn nhân.

Đăng tải trên tạp chí JAMA Network Open, nhóm tác giả chỉ ra rằng nguy cơ u màng não ghi nhận cao nhất ở nhóm sử dụng medroxyprogesterone dạng tiêm (tỷ số chênh [OR] = 4,55), củng cố thêm những cảnh báo đã được ghi nhận trước đây đối với loại thuốc tránh thai này.

Bên cạnh đó, một số thuốc tránh thai kết hợp đường uống cũng cho thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê với sự gia tăng nguy cơ u màng não: mức OR dao động từ 1,40 ở nhóm dùng levonorgestrel và 1,44 với gestodene, lên đến 1,58 với drospirenone, 1,61 với cyproterone và 1,66 với desogestrel.

Nghiên cứu không ghi nhận sự gia tăng nguy cơ có ý nghĩa đối với norethisterone hoặc norgestimate. Tuy nhiên, các tác giả nhận định rằng “the mean time since exposure was long, and the proportion of current users was low” (tạm dịch: “thời gian trung bình kể từ thời điểm phơi nhiễm tương đối dài, trong khi tỷ lệ người hiện còn đang dùng thuốc lại thấp”) và “therefore the study could not provide reliable information on these substances” (tạm dịch: “do đó nghiên cứu chưa thể cung cấp dữ liệu đủ độ tin cậy đối với các hoạt chất này”).

Đối với thuốc tránh thai đường uống chỉ chứa progestogen, phụ nữ dùng desogestrel có nguy cơ u màng não tăng rõ rệt (OR = 1,73), trong khi không ghi nhận mối liên quan này ở nhóm dùng norethisterone.

Về dụng cụ tử cung (IUD), loại phóng thích levonorgestrel liều cao làm tăng nguy cơ u màng não lên 1,58 lần có ý nghĩa thống kê, trong khi dạng levonorgestrel liều thấp không làm tăng nguy cơ. Dù vậy, nhóm nghiên cứu lưu ý rằng sản phẩm liều thấp mới lưu hành trên thị trường gần đây và “the short duration may explain the absence of an association” (tạm dịch: “thời gian theo dõi chưa đủ dài có thể là lý do chưa ghi nhận được mối liên quan”).

Chỉ số số người cần điều trị để gây hại (Number Needed to Harm – NNH) tương ứng với một ca chẩn đoán u màng não phát sinh thêm mỗi năm dùng thuốc “differed greatly” (tạm dịch: “có sự khác biệt rất lớn”) tùy theo từng loại progestogen cụ thể và theo độ tuổi, trong đó phụ nữ lớn tuổi đối mặt với nguy cơ cao nhất.

Nhóm tác giả nhận định: “Medroxyprogesterone showed the highest risk with relatively low numbers needed to harm, whereas all combined oral contraceptives, oral progestogen-only contraceptives, and IUDs had relatively high numbers needed to harm, especially among the youngest women” (tạm dịch: “Medroxyprogesterone cho thấy nguy cơ cao nhất với chỉ số NNH tương đối thấp; trong khi toàn bộ các thuốc tránh thai kết hợp đường uống, thuốc uống chỉ chứa progestogen và dụng cụ tử cung đều có chỉ số NNH tương đối cao, đặc biệt là ở nhóm phụ nữ trẻ nhất”).

Cụ thể, medroxyprogesterone dạng tiêm có chỉ số NNH trải dài từ 448.937 ở độ tuổi 15–19 xuống còn 4.337 ở độ tuổi 45–49. Dụng cụ tử cung liều cao có các chỉ số tương ứng từ 2.749.683 đến 26.558; và đối với thuốc viên kết hợp chứa cyproterone, con số này dao động từ 2.597.771 đến 25.091.

Nhóm nghiên cứu của Wessel Skovlund cho biết thêm việc sử dụng biện pháp tránh thai trong vòng một năm gần nhất có liên quan chặt chẽ nhất với nguy cơ u màng não; tuy nhiên, mối liên quan này không còn ý nghĩa thống kê sau 5 năm ngừng thuốc, ngoại trừ dạng thuốc uống kết hợp chứa desogestrel (OR = 1,65 sau từ 5 năm ngưng dùng trở lên).

Về cơ sở sinh học, các tác giả kết luận rằng tính hợp lý của mối liên hệ giữa progestogen tránh thai và u màng não “is supported by the presence of progesterone receptors in up to 87% of all meningiomas” (tạm dịch: “được củng cố nhờ sự hiện diện của các thụ thể progesterone ở tới 87% các trường hợp u màng não”), cũng như việc gia tăng nguy cơ u màng não trong thai kỳ từng được báo cáo trước đây. Mô hình này cũng được ghi nhận trong nghiên cứu hiện tại ở nhóm phụ nữ mang thai trong vòng một năm trước ngày xác định biến cố (OR = 1,32).