“Fatigue assessments at treatment initiation may serve as an early clinical marker of risk for toxic effects and may help inform personalized treatment strategies and symptom monitoring” (tạm dịch: “Đánh giá mức độ mệt mỏi tại thời điểm khởi đầu điều trị có thể đóng vai trò như một dấu ấn lâm sàng sớm giúp tiên lượng nguy cơ xuất hiện độc tính, từ đó định hướng chiến lược cá thể hóa điều trị cũng như kế hoạch theo dõi triệu chứng”), TS. Joseph Unger (Trung tâm Ung thư Fred Hutchinson, Seattle, Washington, Hoa Kỳ) cùng các cộng sự nhận định trên tạp chí JAMA Oncology.

Nhóm nghiên cứu đã phân tích dữ liệu từ 17 thử nghiệm lâm sàng pha 2 và pha 3 thuộc Mạng lưới Nghiên cứu Ung thư SWOG triển khai trong giai đoạn 1990–2022, trên những người bệnh đã được sàng lọc và đánh giá mức độ mệt mỏi trước khi bắt đầu phác đồ điều trị theo đề cương.

Mẫu phân tích bao gồm 7.086 bệnh nhân với độ tuổi trung bình là 61,1 tuổi; trong đó nam giới chiếm đa số (70,3%) do có sự góp mặt của 5 thử nghiệm về ung thư tuyến tiền liệt. Ngoài ra, phân tích còn tích hợp dữ liệu từ 3 thử nghiệm trên người bệnh ung thư phổi; 2 thử nghiệm trên mỗi nhóm bệnh gồm ung thư vú, ung thư đại trực tràng và u lympho; cùng 1 thử nghiệm trên từng bệnh lý gồm ung thư hắc tố, ung thư tụy và ung thư buồng trứng.

Do các thử nghiệm sử dụng các bộ công cụ khác nhau, nhóm tác giả đã chuẩn hóa các mục đánh giá mệt mỏi về thang đo Likert 5 điểm: không mệt mỏi (0), mệt mỏi nhẹ (1), mệt mỏi vừa (2), mệt mỏi nhiều (3) và mệt mỏi rất nhiều (4). Dựa trên thang đo này, 39,1% bệnh nhân ghi nhận mệt mỏi từ mức độ vừa trở lên tại thời điểm ban đầu, trong đó 16,4% ở mức mệt mỏi nhiều hoặc rất nhiều.

Tổng cộng có 103.738 biến cố bất lợi (AE) được báo cáo xuyên suốt các thử nghiệm. Đáng chú ý, 44,1% người tham gia gặp ít nhất một biến cố bất lợi độ ≥ 3 (mức độ nặng), 14,1% gặp biến cố độ ≥ 4 (đe dọa tính mạng) và 0,9% gặp biến cố độ 5 (tử vong).

Những bệnh nhân ghi nhận mệt mỏi từ mức độ vừa trở lên trước điều trị có nguy cơ xuất hiện các biến cố bất lợi độ ≥ 3, độ ≥ 4 và độ 5 cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm chỉ mệt mỏi nhẹ hoặc không mệt mỏi, với tỷ số chênh (OR) lần lượt là 2,11; 1,98 và 2,35.

Nghiên cứu cũng ghi nhận rõ mối tương quan liều – đáp ứng: mức độ mệt mỏi nền càng cao thì xác suất xuất hiện các biến cố bất lợi ở từng phân độ càng gia tăng. Điển hình, nhóm bệnh nhân mệt mỏi nhiều hoặc rất nhiều trước điều trị có nguy cơ gặp biến cố bất lợi độ 5 cao gấp 5 lần so với nhóm không mệt mỏi.

Dù nền tảng sinh học của mối liên hệ này chưa được làm sáng tỏ hoàn toàn, các nhà nghiên cứu nhấn mạnh: “the capacity of patient-reported fatigue to predict future symptomatic and objective consequences of cancer treatment suggests fatigue may be a practical and useful marker for extant underlying disease processes” (tạm dịch: “khả năng dự báo các hậu quả thực thể và triệu chứng điều trị ung thư từ mức độ mệt mỏi do chính người bệnh báo cáo gợi ý rằng đây có thể là một dấu ấn lâm sàng thực tiễn, hữu ích phản ánh các tiến trình bệnh lý tiềm ẩn”).

Nhóm tác giả nhận định thêm: “If so, then interventions to address existing fatigue symptoms in patients with cancer may reduce symptoms of this debilitating condition and, potentially, any limited direct effects on treatment toxic effects” (tạm dịch: “Nếu đúng như vậy, việc can thiệp kiểm soát triệu chứng mệt mỏi sẵn có ở người bệnh ung thư không chỉ cải thiện tình trạng suy kiệt này mà còn có tiềm năng hạn chế các độc tính liên quan trực tiếp đến quá trình điều trị”).