Các nhà nghiên cứu ghi nhận liệu pháp ức chế chọn lọc phosphodiesterase 4 (PDE4) bằng mufemilast giúp giảm rõ rệt số lượng vết loét, giảm đau và thúc đẩy nhanh quá trình lành tổn thương so với giả dược.
Nhóm nghiên cứu nhận định rằng dù FDA đã phê duyệt một số liệu pháp đầu tay cho các tổn thương niêm mạc da như colchicine hay apremilast, “adverse events such as gastrointestinal side effects limit their use, and some patients may experience relapse after treatment” (tạm dịch: “các biến cố bất lợi trên đường tiêu hóa vẫn là rào cản hạn chế việc sử dụng, đồng thời một số bệnh nhân có thể tái phát sau điều trị”).
Trong thử nghiệm này, “[m]ufemilast demonstrated a good safety profile without titration” (tạm dịch: “mufemilast thể hiện hồ sơ an toàn thuận lợi mà không cần phải chỉnh tăng liều từng bước”), đồng thời “PDE4-related side effects were transient and resolved spontaneously” (tạm dịch: “các tác dụng phụ liên quan đến ức chế PDE4 chỉ thoáng qua và tự thoái lui”).
Tổng cộng 90 bệnh nhân hội chứng Behçet tại 29 trung tâm y tế ở Trung Quốc được phân ngẫu nhiên để dùng mufemilast đường uống với mức liều 45 mg (n=29), 60 mg (n=31) hoặc giả dược (n=30), dùng 2 lần mỗi ngày trong 12 tuần.
Tất cả bệnh nhân đều có vết loét miệng đang hoạt động tại thời điểm sàng lọc và có ít nhất 2 vết loét khi bắt đầu phân nhóm can thiệp. Số lượng vết loét trung bình ban đầu là 3,5; mức độ đau vùng miệng đánh giá trên thang điểm tương đồng thị giác (VAS) 100 mm đạt trung bình 49 điểm (điểm số càng cao phản ánh mức độ đau càng dữ dội). Độ tuổi trung bình của đối tượng tham gia là 40 tuổi và nữ giới chiếm 61%.
Trong thời gian can thiệp, bệnh nhân được phép duy trì các thuốc giảm đau đường uống hoặc tại chỗ, cũng như corticosteroid liều thấp (<10 mg/ngày), miễn là đã dùng ổn định ít nhất 4 tuần trước khi vào nghiên cứu và giữ nguyên liều trong suốt thử nghiệm.
Tiêu chí hiệu quả chính là diện tích dưới đường cong (AUC) của tổng số vết loét từ thời điểm ban đầu đến tuần thứ 12. Các tác giả giải thích việc lựa chọn tiêu chí này là “because it reflects the number of oral ulcers over time and more effectively captures the remitting and relapsing course of oral ulcers in [Behçet syndrome] than does the number of ulcers at a single time point” (tạm dịch: “nhằm phản ánh số lượng vết loét miệng theo thời gian, qua đó ghi nhận diễn tiến tái phát – thuyên giảm của loét miệng trong hội chứng Behçet một cách chuẩn xác hơn so với việc chỉ đếm số vết loét tại một thời điểm đơn lẻ”).
Nhóm tác giả do TS. Zhanguo Li (Bệnh viện Nhân dân Đại học Bắc Kinh, Trung Quốc) đứng đầu cho biết số lượng vết loét miệng “declined rapidly” (tạm dịch: “giảm nhanh chóng”) trong quá trình dùng mufemilast với mức độ vượt trội có ý nghĩa thống kê so với giả dược. Tại tuần 12, chênh lệch trung bình bình phương tối thiểu về AUC của tổng số vết loét so với giả dược lần lượt là –104,8 ở nhóm dùng mufemilast 45 mg và –142,5 ở nhóm dùng 65 mg.
Mức giảm số lượng vết loét miệng trung bình từ thời điểm ban đầu đến tuần 12 đạt 2,8 ở nhóm mufemilast 45 mg và 2,9 ở nhóm mufemilast 60 mg, so với mức giảm 1,6 ở nhóm dùng giả dược. Điểm đau trên thang VAS giảm trung bình lần lượt là 42,2; 40,5 và 28,5 điểm.
Đặc biệt, tỷ lệ bệnh nhân đạt lui bệnh hoàn toàn tổn thương loét ở tuần thứ 6 và duy trì sạch vết loét trong 6 tuần tiếp theo đạt 28% ở nhóm 45 mg và 39% ở nhóm 60 mg, trong khi nhóm giả dược chỉ đạt 3%.
Tương ứng, tỷ lệ lui bệnh hoàn toàn tại tuần 12 lần lượt là 38% và 45% so với 17% ở nhóm chứng; tỷ lệ bệnh nhân duy trì tình trạng sạch vết loét sau khi hoàn tất liệu trình điều trị đạt 35% và 52% so với 38%.
Nhìn chung, có 5 trường hợp phải ngừng điều trị do gặp biến cố bất lợi (AE) liên quan đến thuốc nghiên cứu. Các biến cố này đều ở mức độ nhẹ đến trung bình, bao gồm buồn nôn, khó chịu thượng vị kèm nôn khan, đau bụng, nôn và chóng mặt; phần lớn tự hồi phục mà không cần can thiệp.
Công bố trên tạp chí Annals of the Rheumatic Diseases, nhóm nghiên cứu nhận xét các biến cố bất lợi phát sinh trong điều trị “primarily mild and resolved spontaneously within the first week” (tạm dịch: “chủ yếu ở mức độ nhẹ và tự hết trong tuần đầu tiên”), thường gặp nhất là các tác dụng phụ liên quan đến ức chế PDE4 như buồn nôn, đau đầu, tiêu chảy, nhiễm trùng hô hấp trên và nôn ói. Không có bất kỳ biến cố bất lợi nghiêm trọng nào xảy ra.
Các tác giả cũng lưu ý thêm rằng nghiên cứu ban đầu dự kiến đánh giá hiệu quả của mufemilast trên loét sinh dục, tổn thương da và biểu hiện viêm khớp, nhưng cỡ mẫu bệnh nhân có các biểu hiện lâm sàng này còn quá thấp.
Hiệu lực điều trị trên các triệu chứng kể trên cũng như dữ liệu theo dõi an toàn và hiệu quả lâu dài của mufemilast đang tiếp tục được làm rõ trong thử nghiệm lâm sàng pha 3.