“The findings suggest that the benefits of HPV vaccination may extend beyond cancer prevention to the prevention of adverse pregnancy outcomes, with broader implications for maternal and child public health,” (tạm dịch: “Các kết quả cho thấy lợi ích của việc tiêm chủng HPV không chỉ dừng lại ở phòng ngừa ung thư mà còn mở rộng sang dự phòng các kết cục thai kỳ bất lợi, mang lại ý nghĩa sâu rộng đối với sức khỏe cộng đồng của bà mẹ và trẻ em”), TS. Zhongsong Zhang (Viện Karolinska, Stockholm, Thụy Điển) cùng các cộng sự cho biết.
Nghiên cứu đăng tải trên tạp chí The BMJ đã đánh giá kết cục thai kỳ của 624.713 ca sinh sống đơn thai từ 612.149 phụ nữ Thụy Điển trong giai đoạn 2006–2023, trong đó 14,8% sản phụ đã tiêm vắc-xin HPV 4 giá trước khi thụ thai. Nhóm phụ nữ tiêm vắc-xin được ghép cặp tương đồng theo tuổi mẹ và năm thụ thai với nhóm đối chứng không tiêm phòng.
Sau khi hiệu chỉnh hàng loạt yếu tố nhiễu như quốc gia cư trú, trình độ học vấn, thu nhập hàng năm, tình trạng hút thuốc, chỉ số BMI và các phương pháp hỗ trợ sinh sản, nhóm nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ sinh non (<37 tuần) ở nhóm đã tiêm vắc-xin thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm không tiêm (14,1% so với 14,7%; tỉ số số phận hiệu chỉnh – aOR = 0,95).
Các kết cục bất lợi chính khác sau hiệu chỉnh cũng giảm đáng kể ở nhóm tiêm chủng, bao gồm sinh rất non (28–32 tuần; 13,7% so với 15,5%, aOR = 0,85) và sinh non tự phát (13,8% so với 14,4%, aOR = 0,95).
Bên cạnh đó, việc tiêm vắc-xin còn giảm rõ rệt nguy cơ gặp các kết cục phụ bất lợi như vỡ ối sớm trước chuyển dạ ở thai thiếu tháng (pPROM; 14,6% so với 15,0%, aOR = 0,93) và thai nhỏ so với tuổi thai (SGA) dưới bách phân vị thứ 10 (13,8% so với 14,9%, aOR = 0,97) hoặc dưới bách phân vị thứ 3 (13,1% so với 14,5%, aOR = 0,92).
Nhóm nghiên cứu của Zhang lưu ý thêm rằng không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ sinh cực non, sinh non trung bình đến muộn, thai chết lưu hay tử vong sơ sinh giữa hai nhóm sau khi đã hiệu chỉnh.
Đáng chú ý, độ tuổi tại thời điểm tiêm chủng là một yếu tố ảnh hưởng quan trọng. Phụ nữ được tiêm vắc-xin trước 17 tuổi có nguy cơ sinh non (aOR = 0,90) và sinh non tự phát (aOR = 0,89) thấp hơn hẳn so với người không tiêm, đồng thời giảm đáng kể nguy cơ pPROM (aOR = 0,86) và SGA mức độ nặng dưới bách phân vị thứ 3 (aOR = 0,91).
Mặc dù phụ nữ tiêm chủng từ 17 tuổi trở lên vẫn giảm đáng kể nguy cơ SGA nặng (aOR = 0,93) hoặc thai chết lưu (aOR = 0,79) so với nhóm không tiêm, nhưng “risk estimates were systematically lower for women vaccinated earlier,” (tạm dịch: “các ước tính nguy cơ ở nhóm tiêm chủng sớm hơn đều ở mức thấp hơn một cách hệ thống”), bao gồm sự khác biệt có ý nghĩa đối với sinh non tự phát và pPROM.
“These potential additional benefits may be relevant not only for Sweden but also for other countries considering the introduction, expansion, or strengthening of human papillomavirus vaccination programmes,” (tạm dịch: “Những lợi ích bổ sung tiềm năng này không chỉ có ý nghĩa riêng với Thụy Điển mà còn đối với các quốc gia đang xem xét việc triển khai, mở rộng hoặc tăng cường các chương trình tiêm chủng vắc-xin HPV”), các nhà nghiên cứu nhấn mạnh.
Nhóm tác giả bổ sung: “Furthermore, by suggesting that human papillomavirus vaccination not only is safe with respect to adverse pregnancy outcomes but may also offer benefits beyond cancer prevention, these findings would help to strengthen public confidence in human papillomavirus vaccination.” (tạm dịch: “Hơn nữa, bằng việc chỉ ra rằng tiêm chủng vắc-xin HPV không những an toàn đối với các kết cục thai kỳ mà còn mang lại lợi ích vượt ngoài phạm vi phòng ngừa ung thư, những phát hiện này sẽ góp phần củng cố niềm tin của cộng đồng đối với tiêm chủng HPV”).
“Looking ahead, continued long term follow-up of vaccinated populations, together with systematic monitoring of pregnancy and birth outcomes, will be important to further quantify these broader reproductive and societal impacts.” (tạm dịch: “Trong tương lai, việc tiếp tục theo dõi dài hạn trên các quần thể đã tiêm chủng cùng với giám sát hệ thống các kết cục thai kỳ và sinh nở sẽ đóng vai trò then chốt để lượng hóa chính xác hơn những tác động sâu rộng này về mặt sức khỏe sinh sản và xã hội”).