Tuy nhiên, TS. Laura Esserman (Đại học California, San Francisco, Hoa Kỳ) và các cộng sự ghi nhận phương pháp tiếp cận theo nguy cơ này không giúp làm giảm đáng kể tỷ lệ sinh thiết ở các đối tượng tham gia – vốn là một trong những tiêu chí đánh giá chính của nghiên cứu.
Trong bài xã luận đi kèm, hai chuyên gia Nancy Baxter (Đại học Sydney, New South Wales, Úc) và Kelly Anne Phillips (Trung tâm Ung thư Peter MacCallum, Melbourne, Victoria, Úc) đồng thuận rằng “[t]he WISDOM trial increases confidence in the safety and feasibility of risk-based screening” (tạm dịch: “thử nghiệm WISDOM củng cố thêm niềm tin vào tính an toàn và khả thi của việc sàng lọc theo nguy cơ”), nhưng cũng lưu ý thêm “because of low adherence to screening recommendations in this large, pragmatic trial, the effectiveness remains uncertain” (tạm dịch: “do mức độ tuân thủ khuyến cáo sàng lọc còn thấp trong thử nghiệm thực tế quy mô lớn này, hiệu quả thực sự của phương pháp vẫn chưa rõ ràng”).
Thử nghiệm WISDOM được tiến hành trên 28.372 phụ nữ Mỹ trong độ tuổi 40–74 (độ tuổi trung bình 54; 77% là người da trắng không thuộc gốc Tây Ban Nha) chưa từng mắc ung thư vú hoặc ung thư biểu mô ống tuyến vú tại chỗ (DCIS). Các đối tượng được phân ngẫu nhiên vào nhóm sàng lọc cá thể hóa theo nguy cơ (n = 14.212) hoặc nhóm chụp nhũ ảnh định kỳ hàng năm (n = 14.160).
Ở nhóm phân tầng theo nguy cơ, người tham gia được chia thành 4 phân nhóm dựa trên sự hiện diện của 9 biến thể gây bệnh có độ thâm nhập cao, điểm số nguy cơ đa gen (PRS), cùng mô hình BCSC phiên bản 2 (Breast Cancer Surveillance Consortium version 2) để tiên lượng nguy cơ mắc ung thư vú xâm lấn trong 5 năm dựa theo các yếu tố: độ tuổi, chủng tộc/dân tộc, tiền sử gia đình, bệnh tuyến vú lành tính và mật độ mô vú.
Khoảng 2% đối tượng được xếp vào nhóm nguy cơ rất cao (nguy cơ mắc bệnh trong 5 năm từ 6% trở lên, mang biến thể gây bệnh có độ thâm nhập cao và/hoặc từng xạ trị vùng ngực kiểu vạt áo [mantle radiation]). Những phụ nữ này được chỉ định chụp nhũ ảnh xen kẽ với chụp cộng hưởng từ (MRI) mỗi 6 tháng một lần, kết hợp tư vấn các biện pháp giảm thiểu nguy cơ.
Thêm 8% phụ nữ thuộc nhóm nguy cơ tăng cao dựa trên tiêu chí: thuộc nhóm 2,5% nguy cơ cao nhất theo từng độ tuổi, mô vú rất đặc trước 50 tuổi, có nguy cơ mắc ung thư vú dương tính với thụ thể estrogen từ 1% trở lên do cơ địa di truyền, hoặc mang các biến thể gây bệnh nguy cơ cao dù không có tiền sử gia đình. Nhóm này được lên lịch chụp nhũ ảnh hàng năm kèm theo tư vấn.
Đa số người tham gia (63%) thuộc nhóm nguy cơ trung bình (phụ nữ 50–74 tuổi, hoặc 40–49 tuổi có nguy cơ 5 năm từ 1,3% trở lên) và được chỉ định chụp nhũ ảnh định kỳ 2 năm một lần.
Khoảng 27% còn lại được xếp vào nhóm nguy cơ thấp (độ tuổi 40–49 hoặc từ 75 tuổi trở lên có nguy cơ 5 năm dưới 1,3%; hoặc từ 70 tuổi trở lên có nguy cơ 5 năm dưới 2,2% kèm theo tỷ lệ tử vong trong 10 năm do bệnh đồng mắc từ 50% trở lên). Theo đó, những phụ nữ trẻ trong nhóm này được khuyến nghị trì hoãn sàng lọc cho đến năm 50 tuổi hoặc đến khi nguy cơ chạm ngưỡng 1,3%, còn các trường hợp lớn tuổi được khuyến cáo ngừng sàng lọc.
Sau thời gian theo dõi trung vị 5,1 năm, có 523 trường hợp được chẩn đoán ung thư vú, trong đó 78% là thể xâm lấn và 22% ở giai đoạn 0 (DCIS).
Đáng chú ý, tỷ lệ phát hiện ung thư vú từ giai đoạn IIB trở lên giữa nhóm sàng lọc theo nguy cơ và nhóm chụp hàng năm không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (lần lượt là 21 so với 31 ca trên 100.000 người–năm), qua đó đạt tiêu chuẩn về tính không thua kém. Các tác giả cũng ghi nhận rằng dù tỷ lệ mắc bệnh tăng dần theo mức độ nguy cơ, song ở phân nhóm nguy cơ cao nhất lại không ghi nhận trường hợp nào tiến triển đến giai đoạn IIB hoặc muộn hơn.
Dẫu vậy, tần suất sinh thiết giữa nhóm sàng lọc theo nguy cơ và nhóm chụp hàng năm không chênh lệch đáng kể, tương ứng là 943 so với 1.029 ca trên 100.000 người–năm. Tuy nhiên, nhóm của TS. Esserman nhận thấy tỷ lệ này có sự khác biệt “markedly” (tạm dịch: “rất rõ rệt”) giữa các phân nhóm nguy cơ rất cao, tăng cao, trung bình và thấp, lần lượt là 6.647, 3.207, 1.173 và 981 ca trên 100.000 người–năm.
Báo cáo cũng chỉ ra rằng nhóm sàng lọc theo nguy cơ có tần suất chụp nhũ ảnh thấp hơn so với nhóm chụp hàng năm (43.084 so với 46.920 lượt trên 100.000 người–năm). Dù vậy, chỉ số này “varied significantly” (tạm dịch: “dao động đáng kể”) giữa các phân nhóm nguy cơ, trong đó phụ nữ ở độ tuổi 40 có tỷ lệ thực hiện thấp nhất đúng như dự kiến.
Các nhà nghiên cứu thừa nhận: “The overall reduction in mammograms in the risk-based group was less than anticipated because those randomized to the risk-based group and assigned to the average (biennial screening) and lowest risk categories (no screening) screened more often than recommended” (tạm dịch: “Mức độ cắt giảm số ca chụp nhũ ảnh ở nhóm phân tầng nguy cơ nhìn chung thấp hơn kỳ vọng, nguyên nhân là do những người thuộc phân nhóm nguy cơ trung bình [chụp 2 năm một lần] và nguy cơ thấp nhất [không sàng lọc] vẫn đi chụp thường xuyên hơn so với khuyến cáo”).
Nhóm nghiên cứu cũng ghi nhận sự gia tăng chỉ định MRI ở phụ nữ có nguy cơ tăng cao dù phác đồ không khuyến cáo phương thức này. Điều này nhiều khả năng xuất phát từ các hướng dẫn hiện hành cho phép chỉ định MRI ở phụ nữ có tiền sử gia đình tương ứng với nguy cơ mắc ung thư vú suốt đời từ 20% trở lên.
Hai tác giả Baxter và Phillips nhận định mức chênh lệch về tỷ lệ chụp nhũ ảnh giữa hai nhóm là “small” (tạm dịch: “rất nhỏ”), chỉ ở mức 4,3 so với 4,7 lượt trên mỗi 10 người–năm theo dõi. Họ đặt vấn đề rằng “[t]his similarity in screening behavior between groups may mask any potential benefit or harm of risk-based screening” (tạm dịch: “sự tương đồng trong hành vi sàng lọc giữa hai nhóm có thể đã che lấp những lợi ích hoặc tác hại tiềm ẩn của chiến lược sàng lọc theo nguy cơ”).
Dù đánh giá cao mô hình sàng lọc theo nguy cơ trong nghiên cứu WISDOM như một “platform for personalized primary prevention” (tạm dịch: “nền tảng cho dự phòng tiên phát cá thể hóa”) và xem đây là “[a]n important strength” (tạm dịch: “một ưu điểm quan trọng”), các tác giả bài xã luận vẫn lưu ý rằng chỉ có 4% phụ nữ thuộc nhóm nguy cơ tăng cao ở nhóm sàng lọc này thực sự sử dụng liệu pháp hóa dự phòng (chemoprevention) theo hướng dẫn.
Do đó, hai chuyên gia kết luận: “to fully realize the potential for breast cancer control through risk-based screening, purposeful integration with prevention is needed” (tạm dịch: “để hiện thực hóa trọn vẹn tiềm năng kiểm soát ung thư vú thông qua sàng lọc theo nguy cơ, cần có sự gắn kết chặt chẽ và chủ động với các biện pháp dự phòng”).