Báo cáo đồng thời tại Hội nghị Thường niên EASD 2026 ở Milan (Ý) và công bố trên tạp chí The New England Journal of Medicine, TS. Sean Wharton (Phòng khám Y khoa Wharton, Burlington, Ontario, Canada) cùng các cộng sự nhận định rằng các phát hiện này “add to the evidence on GLP-1 receptor-based therapies for treating obesity in persons with type 2 diabetes” (tạm dịch: “bổ sung thêm bằng chứng xác đáng về vai trò của các liệu pháp dựa trên thụ thể GLP-1 trong kiểm soát béo phì ở người bệnh đái tháo đường típ 2”).
Thử nghiệm pha 3 đa quốc gia này thu nhận 752 người trưởng thành (tuổi trung bình 56; 51% là nữ) mắc đái tháo đường típ 2 chưa cần khởi trị insulin tại thời điểm ban đầu và có chỉ số khối cơ thể (BMI) từ 27 kg/m2 trở lên (trung bình 36,5 kg/m2). Các đối tượng được phân ngẫu nhiên để tiêm dưới da survodutide 3,6 mg (n=250), survodutide 6,0 mg (n=251) hoặc giả dược (n=251) mỗi tuần một lần trong 76 tuần.
Nhóm nghiên cứu ghi nhận tại tuần 76, đối với tiêu chí chính phối hợp về cân nặng, mức giảm trung bình đạt 8,2% ở nhóm dùng survodutide 3,6 mg; 9,8% ở nhóm dùng survodutide 6,0 mg và 3,9% ở nhóm dùng giả dược; tương ứng với mức giảm cân tuyệt đối lần lượt là 8,6 kg; 10,2 kg và 4,2 kg so với cân nặng nền trung bình 104,1 kg.
Mức giảm trọng lượng cơ thể ở cả hai mức liều survodutide đều vượt trội có ý nghĩa thống kê so với giả dược. Đồng thời, tỷ lệ người bệnh đạt tiêu chí chính phối hợp còn lại – giảm ít nhất 5% trọng lượng cơ thể – ở nhóm dùng survodutide 3,6 mg và 6,0 mg cũng cao hơn rõ rệt so với giả dược, lần lượt là 57,6% và 64,5% so với 35,1%.
Tỷ lệ người tham gia đạt mức giảm cân từ 10%, 15% hoặc 20% trở lên cũng như mức giảm số đo vòng eo trung bình ở cả hai nhóm dùng survodutide đều vượt trội có ý nghĩa so với nhóm dùng giả dược.
Nồng độ hemoglobin glycated (HbA1c) trung bình toàn quần thể ở thời điểm ban đầu là 7,4% (57 mmol/mol). Chỉ số này giảm 0,9 điểm phần trăm ở nhóm survodutide 3,6 mg; giảm 0,8 điểm phần trăm ở nhóm 6,0 mg và chỉ giảm khiêm tốn 0,2 điểm phần trăm ở nhóm giả dược (sự khác biệt có ý nghĩa thống kê).
Không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm can thiệp về mức thay đổi huyết áp tâm thu cũng như điểm số phân nhóm Khả năng kiểm soát cơn thèm ăn (Capacity to Resist) thuộc thang đo Hành vi ăn uống do bệnh nhân tự báo cáo.
TS. Wharton và cộng sự lưu ý rằng: “safety profile of survodutide was similar to that of other obesity medications with GLP-1 receptor agonist activity” (tạm dịch: “hồ sơ an toàn của survodutide tương đồng với các thuốc điều trị béo phì khác có hoạt tính đồng vận thụ thể GLP-1”).
Các biến cố bất lợi (AE) thường gặp nhất là rối loạn tiêu hóa thoáng qua ở mức độ nhẹ đến trung bình, xuất hiện ở 72,8% bệnh nhân dùng survodutide 3,6 mg; 77,7% bệnh nhân dùng survodutide 6,0 mg và 38,6% ở nhóm dùng giả dược. Tỷ lệ ngưng phác đồ điều trị do tác dụng phụ trên đường tiêu hóa lần lượt là 18,0%; 17,9% và 1,2%.
Biến cố hạ đường huyết xảy ra ở 8,0% đối tượng nhóm 3,6 mg; 9,2% nhóm 6,0 mg và 4,0% nhóm giả dược; trong đó chỉ ghi nhận duy nhất một đợt hạ đường huyết độ 3 ở một bệnh nhân dùng liều 3,6 mg. Ngược lại, biến cố tăng đường huyết được ghi nhận lần lượt ở 2,0%; 1,2% và 12,4% người tham gia.
Nhóm tác giả kết luận: “Survodutide treatment led to clinically meaningful reductions in body weight and glycated hemoglobin levels over a period of 76 weeks” (tạm dịch: “Điều trị bằng survodutide mang lại hiệu quả giảm cân nặng và cải thiện nồng độ glycated hemoglobin có ý nghĩa lâm sàng trong suốt 76 tuần theo dõi”).
Tuy vậy, các nhà nghiên cứu cũng thẳng thắn nhìn nhận: “An important limitation was the exclusion of persons taking insulin, which restricts the generalizability of the findings to the wider population of persons with type 2 diabetes, as does the fact that most participants had reasonable glycemic control at baseline (mean glycated hemoglobin level, 7.4%) with oral glucose-lowering drugs” (tạm dịch: “Một hạn chế quan trọng của nghiên cứu là tiêu chuẩn loại trừ các đối tượng đang điều trị bằng insulin, điều này làm giảm khả năng ngoại suy dữ liệu sang quần thể bệnh nhân đái tháo đường típ 2 nói chung; bên cạnh đó, đa số người tham gia đã đạt mức kiểm soát đường huyết tương đối ổn định từ ban đầu với HbA1c trung bình 7,4% nhờ các thuốc hạ đường huyết đường uống”).