Dữ liệu báo cáo về 21 bệnh nhi từ 6 tuổi trở xuống gặp biến cố bất lợi (AE) toàn thân sau khi dùng thuốc nhỏ mắt apraclonidine cho thấy: 81% trẻ xuất hiện tình trạng li bì kéo dài kèm mất đáp ứng, và 38% gặp các biến cố tim mạch – hô hấp có ý nghĩa lâm sàng, bao gồm cơn ngừng thở, giảm oxy máu, nhịp tim chậm, hạ thân nhiệt, tăng hoặc hạ huyết áp và suy hô hấp.
Nhà nghiên cứu Paula Gish cùng các cộng sự tại Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) ghi nhận hơn một nửa số trường hợp xảy ra ở trẻ dưới 1 tuổi được chỉ định apraclonidine – một thuốc chủ vận thụ thể α-2 adrenergic tại chỗ – nhằm mục đích chẩn đoán.
Chuỗi ca bệnh cho thấy “use of apraclonidine in pediatric patients poses a risk of central α-2 adrenergic agonist–induced central nervous system and respiratory depression” (tạm dịch: “việc sử dụng apraclonidine ở bệnh nhi tiềm ẩn nguy cơ ức chế thần kinh trung ương và hô hấp do tác động của chất chủ vận α-2 adrenergic trung ương”), nhóm tác giả của Gish khẳng định. Nhóm nghiên cứu nhấn mạnh thêm: “[c]linicians who use apraclonidine in the pediatric population should be aware of potential serious systemic effects from ophthalmic use of the drug and be prepared to manage these.” (tạm dịch: “Các bác sĩ lâm sàng khi chỉ định apraclonidine cho trẻ em cần cảnh giác trước những ảnh hưởng toàn thân nghiêm trọng có thể xảy ra khi dùng thuốc nhỏ mắt này và phải luôn sẵn sàng phương án xử trí.”)
Tại Hoa Kỳ, dung dịch nhỏ mắt apraclonidine 0,5% hoặc 1,0% được chỉ định hạ nhãn áp ngắn hạn ở người lớn, tuy nhiên “[s]afety and effectiveness in pediatric patients have not been established” (tạm dịch: “tính an toàn và hiệu quả trên bệnh nhi vẫn chưa được thiết lập”), các nhà nghiên cứu giải thích.
Thuốc thường được dùng ngoài chỉ định (off-label) ở trẻ em có đồng tử không đều để loại trừ hội chứng Horner mà không cần chụp chẩn đoán hình ảnh dưới gây mê; tuy nhiên, một báo cáo sau lưu hành về tình trạng li bì, ngủ gà và hạ thân nhiệt ở một bé gái 10 tháng tuổi “prompted an FDA review for risks associated with use of apraclonidine ophthalmic drops in pediatric patients” (tạm dịch: “đã thúc đẩy FDA tiến hành đánh giá các nguy cơ liên quan đến việc sử dụng thuốc nhỏ mắt apraclonidine ở đối tượng bệnh nhi”), nhóm của Gish cho biết.
Các tác giả đã tra cứu cơ sở dữ liệu Báo cáo Biến cố Bất lợi của FDA (FAERS) cùng y văn nhằm tìm kiếm các trường hợp liên quan đến apraclonidine ở bệnh nhân dưới 18 tuổi, tính từ thời điểm thuốc được cấp phép lần đầu năm 1987 đến năm 2024. Nhóm đã ghi nhận 21 ca gặp biến cố toàn thân ở độ tuổi từ 12 ngày đến 6 tuổi, với độ tuổi trung vị là 6 tháng (10 bé gái, 8 bé trai, 3 ca không ghi nhận giới tính). Phần lớn các biến cố (76%) xảy ra ở trẻ dưới 1 tuổi. Đáng chú ý, khi dùng cho trẻ nhũ nhi dưới 1 tuổi phục vụ mục đích chẩn đoán, độc tính toàn thân có xu hướng khởi phát nhanh chỉ trong vòng 1 đến 2 giờ sau khi nhỏ thuốc. Không có trường hợp nào tử vong, nhưng có 3 trẻ phải đặt nội khí quản.
“The rapid onset of AEs consistent with α-2 adrenergic agonist toxidrome, in the absence of reported use of concomitant medications and comorbidities in most cases for diagnostic purposes, suggests a drug-related effect” (tạm dịch: “Sự khởi phát nhanh chóng của các biến cố bất lợi phù hợp với hội chứng nhiễm độc thuốc chủ vận α-2 adrenergic, trong bối cảnh hầu hết các trường hợp dùng để chẩn đoán đều không ghi nhận phối hợp thuốc hay có bệnh kèm theo, gợi ý rõ rệt đây là phản ứng có hại do thuốc”), nhóm tác giả kết luận, đồng thời cho biết thêm các biểu hiện này “similar to symptoms of clonidine toxicity” (tạm dịch: “tương tự các triệu chứng ngộ độc clonidine”).
Các chuyên gia nhận định rằng những đặc điểm sinh lý học riêng biệt ở trẻ nhỏ có thể khiến trẻ nhũ nhi dễ tổn thương hơn trước độc tính của apraclonidine, đặc biệt là tình trạng thuốc bị hấp thu quá mức qua đường nhỏ mắt vào tuần hoàn chung.
Các nồng độ được ghi nhận gây biến cố gồm 0,25%, 0,50% và 1,00%; trong đó có 6 trường hợp không nêu rõ nồng độ. Bên cạnh nghiệm pháp chẩn đoán hội chứng Horner, các chỉ định lâm sàng khác của apraclonidine được báo cáo bao gồm glôcôm, chăm sóc sau phẫu thuật mở góc tiền phòng (goniotomy) và hỗ trợ thăm khám nhãn khoa tổng quát.