Báo cáo trên tạp chí The Lancet Oncology, các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng mặc dù bụi mịn (PM2.5) từ cả cháy rừng và các nguồn phát thải khác đều làm gia tăng nguy cơ tử vong, nhưng bụi mịn từ cháy rừng thể hiện “significantly greater toxicity” (tạm dịch: “độc tính cao hơn đáng kể”).
Nhóm nghiên cứu nhấn mạnh thêm: “Considering the high toxicity of wildfire-related PM2.5 and its status as the fastest-growing contributor to ambient air pollution, our findings suggest the need to reduce wildfire-related PM2.5 exposure in clinical care settings for patients with lung cancer, especially during wildfire episodes” (tạm dịch: “Xét đến độc tính cao của PM2.5 từ cháy rừng và thực trạng đây là yếu tố gia tăng nhanh nhất trong ô nhiễm không khí xung quanh, các phát hiện của chúng tôi gợi mở sự cần thiết phải giảm thiểu phơi nhiễm PM2.5 do cháy rừng trong môi trường chăm sóc lâm sàng cho bệnh nhân ung thư phổi, đặc biệt là trong các đợt bùng phát cháy rừng”).
“Reduction of exposure could be achieved, for example, through the use of high-efficiency particulate air filters, provision of protective masks for patients, and improvement of indoor ventilation systems in both homes and hospitals” (tạm dịch: “Việc giảm thiểu phơi nhiễm có thể đạt được thông qua việc sử dụng màng lọc không khí hiệu suất cao HEPA, trang bị khẩu trang bảo vệ cho người bệnh và nâng cấp hệ thống thông khí trong nhà ở cả hộ gia đình lẫn cơ sở y tế”).
TS. Min Zhang (Trường Y Icahn tại Mount Sinai, New York, Hoa Kỳ) và các cộng sự đã phân tích dữ liệu từ cơ sở dữ liệu Giám sát, Dịch tễ học và Kết quả Cuối cùng (SEER)–Medicare giai đoạn 2008–2019 trên 414.016 bệnh nhân từ 65 tuổi trở lên (50,4% nữ, 86,1% người da trắng) mắc ung thư phổi không tế bào nhỏ hoặc ung thư phổi tế bào nhỏ.
Nhóm tác giả cho biết: “Daily estimates of ambient wildfire-related PM2.5 and total PM2.5 across the contiguous USA (from 2006 to 2019) were obtained from previously developed and validated models and spatially aggregated to zip code level” (tạm dịch: “Ước tính nồng độ PM2.5 từ cháy rừng và PM2.5 tổng số hàng ngày trên toàn bộ phần lãnh thổ tiếp giáp của Hoa Kỳ từ năm 2006 đến 2019 được trích xuất từ các mô hình đã xây dựng và chuẩn hóa trước đó, sau đó được gộp theo không gian tới cấp mã bưu chính”).
Nồng độ trung vị của PM2.5 liên quan đến cháy rừng ghi nhận ở mức 0,28 µg/m3, trong khi nồng độ PM2.5 từ các nguồn khác là 8,11 µg/m3.
Mỗi mức tăng thêm một độ lệch chuẩn (SD) của PM2.5 từ cháy rừng và từ các nguồn khác (tương ứng với 0,30 và 2,23 µg/m3) đều liên quan đến sự gia tăng có ý nghĩa thống kê về nguy cơ tử vong, với tỷ số nguy hại (HR) lần lượt là 1,0229 và 1,0384.
Nhóm nghiên cứu ghi nhận: “When effects were expressed per 1-μg/m3 increase, using the same increment for both pollutants to allow direct comparison of their relative toxicity, the HR for death was higher with wildfire-related PM2.5 than non-wildfire PM2.5” (tạm dịch: “Khi đánh giá tác động trên mỗi 1 µg/m3 tăng thêm để chuẩn hóa cùng mức phơi nhiễm nhằm so sánh trực tiếp độc tính tương đối, tỷ số nguy hại đối với tử vong ở nhóm phơi nhiễm PM2.5 từ cháy rừng cao hơn so với PM2.5 từ các nguồn khác”), với HR tương ứng là 1,0782 so với 1,0171, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.
Các tác giả phân tích: “The greater carcinogenic potential of wildfire-related PM2.5 might be partly attributable to its higher proportion of smaller particles and elevated concentrations of known human carcinogens (such as polycyclic aromatic hydrocarbons and heavy metals) and polar organic compounds” (tạm dịch: “Tiềm năng sinh ung mạnh hơn của PM2.5 bắt nguồn từ cháy rừng có thể một phần do tỷ lệ hạt mịn kích thước nhỏ cao hơn, cùng với nồng độ gia tăng của các chất sinh ung đã xác định trên người như hydrocarbon thơm đa vòng và kim loại nặng cũng như các hợp chất hữu cơ phân cực”).
Sau cùng, nhóm nghiên cứu ước tính PM2.5 từ cháy rừng là nguyên nhân dẫn đến 696 ca tử vong vượt mức mỗi năm, trong khi PM2.5 từ các nguồn khác đóng góp 3.465 ca. Thực tế này khiến các tác giả nhấn mạnh: “although the average concentration of non-wildfire PM2.5 was about 23.5 times higher than that of wildfire-related PM2.5, the corresponding mortality burden was only about five times greater for non-wildfire PM2.5” (tạm dịch: “mặc dù nồng độ trung bình của PM2.5 không do cháy rừng cao gấp khoảng 23,5 lần so với PM2.5 từ cháy rừng, gánh nặng tử vong tương ứng chỉ cao hơn khoảng 5 lần”).
Họ đưa ra kết luận: “Emissions from wildfires can travel thousands of miles, crossing borders and continents. Therefore, under a rapidly changing climate, addressing the adverse health effects of wildfire smoke requires coordinated efforts beyond national borders” (tạm dịch: “Khói phát thải từ các vụ cháy rừng có thể di chuyển hàng nghìn dặm, vượt qua biên giới quốc gia và các lục địa. Do đó, trước bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến nhanh chóng, việc ứng phó với các tác động tiêu cực của khói cháy rừng đối với sức khỏe đòi hỏi sự phối hợp hành động vượt ra ngoài phạm vi từng quốc gia”).