“Ecopipam could be a novel pharmacologic treatment option for children, adolescents, and adults with [Tourette syndrome]” (tạm dịch: “Ecopipam có thể là một lựa chọn điều trị nội khoa mới cho trẻ em, thanh thiếu niên và người lớn mắc hội chứng Tourette”), TS. Donald Gilbert (Trung tâm Y tế Bệnh viện Nhi đồng Cincinnati, Ohio, Hoa Kỳ) cùng các cộng sự kết luận trên tạp chí JAMA Neurology.

Nhóm nghiên cứu lưu ý rằng, bên cạnh các liệu pháp can thiệp hành vi bước một, bệnh nhân hội chứng Tourette thường được chỉ định dùng thuốc đồng vận thụ thể alpha-2 adrenergic hoặc các thuốc điều hòa thụ thể dopamine D2; tuy nhiên, các nhóm thuốc này đều đi kèm nhiều biến cố bất lợi (AE).

Trước đó, một thử nghiệm ngẫu nhiên cùng giai đoạn mở rộng nhãn công khai đã chứng minh ecopipam mang lại hiệu quả cải thiện triệu chứng hội chứng Tourette, đồng thời “limited occurrence of multisystem complications commonly seen with current pharmacotherapies” (tạm dịch: “hạn chế được các biến chứng đa cơ quan thường gặp ở các phác đồ điều trị bằng thuốc hiện nay”), nhóm tác giả giải thích.

Nhằm đánh giá hiệu lực dài hạn của thuốc, các nhà nghiên cứu đã tiến hành thử nghiệm lâm sàng pha 3 gồm hai giai đoạn: giai đoạn nhãn mở kéo dài 12 tuần (trong đó liều ecopipam được chỉnh tăng dần qua 3–4 tuần đạt liều đích 1,8 mg/kg/ngày) và tiếp nối bằng giai đoạn ngừng thuốc ngẫu nhiên (randomized withdrawal) kéo dài 12 tuần.

Giai đoạn phân nhóm ngẫu nhiên áp dụng cho những bệnh nhân đạt mức cải thiện từ 25% trở lên trên Thang điểm Đánh giá Mức độ Nghiêm trọng của Tic Tổng thể Yale (YGTSS-TTS) – mức cải thiện có ý nghĩa lâm sàng – so với ban đầu ở cả tuần thứ 8 và 12. Những người bệnh này được phân ngẫu nhiên để tiếp tục duy trì ecopipam 1,8 mg/kg/ngày hoặc giảm liều dần rồi chuyển sang giả dược trong 12 tuần.

Các trường hợp không đáp ứng tiêu chuẩn điều trị sẽ ngừng tham gia nghiên cứu và được giảm liều ecopipam 22,4 mg/ngày trong vòng 2–8 ngày. Bệnh nhân được theo dõi sát trong suốt các giai đoạn nhãn mở, giai đoạn ngừng thuốc ngẫu nhiên, cũng như vào ngày thứ 7 và 14 sau liều thuốc nghiên cứu cuối cùng. Quá trình theo dõi kết thúc khi ghi nhận đủ 49 biến cố tái phát ở nhóm bệnh nhi.

Từ tháng 1 năm 2023 đến tháng 2 năm 2025, nhóm nghiên cứu đã sàng lọc 294 đối tượng tại 77 trung tâm ở Hoa Kỳ, Bulgaria, Canada, Đan Mạch, Pháp, Đức, Hungary, Ý, Ba Lan, Romania, Serbia và Tây Ban Nha. Trong đó, 167 bệnh nhi và 49 người trưởng thành được chỉ định dùng ecopipam nhãn mở. Đa số bệnh nhân là nam giới (67,6%), độ tuổi trung bình là 16,3 tuổi.

Trong giai đoạn nhãn mở, 73,2% người tham gia đạt mức cải thiện từ 25% trở lên trên thang điểm YGTSS-TTS so với thời điểm ban đầu; trong đó 34,7% cải thiện ít nhất 50% và 4,7% cải thiện từ 75% trở lên.

Sau khi có 18,5% bệnh nhân rút khỏi nghiên cứu do kém hiệu quả và 15,3% rút lui do biến cố bất lợi, 90 bệnh nhi cùng 14 người trưởng thành (tuổi trung bình 14 tuổi, 69,2% nam giới) được phân bổ ngẫu nhiên vào giai đoạn điều trị mù đôi. Cụ thể, có 43 bệnh nhi và 8 người lớn dùng ecopipam; 47 bệnh nhi và 6 người lớn dùng giả dược.

Ở phân nhóm bệnh nhi, ecopipam giúp giảm rõ rệt nguy cơ tái phát so với giả dược với tỷ số nguy cơ (HR) là 0,47, đạt tiêu chí đánh giá chính của nghiên cứu. Tỷ lệ tái phát được ghi nhận là 41,9% ở nhóm dùng ecopipam so với 68,1% ở nhóm dùng giả dược; thời gian tái phát trung vị tính từ thời điểm phân nhóm ngẫu nhiên là 4 tuần đối với nhóm giả dược. Trong khi đó, không thể xác định thời gian tái phát trung vị ở nhóm can thiệp bằng ecopipam do hơn một nửa số bệnh nhân ở nhóm này vẫn duy trì được mức cải thiện từ 50% trở lên tại thời điểm tuần thứ 24.

Xét trên toàn bộ đoàn hệ nghiên cứu, ecopipam cũng cho thấy hiệu quả giảm tái phát có ý nghĩa thống kê với HR là 0,47. Cụ thể, tỷ lệ tái phát ở bệnh nhân từ 6 tuổi trở lên là 41,2% ở nhóm ecopipam so với 67,9% ở nhóm giả dược. Tương tự, thời gian tái phát trung vị là 4,0 tuần ở nhóm giả dược và không thể ước tính ở nhóm dùng ecopipam.

Biến cố bất lợi được ghi nhận ở 68,1% bệnh nhân trong quá trình điều trị với ecopipam, phần lớn ở mức độ nhẹ đến trung bình. Các biến cố bất lợi thường gặp nhất gồm buồn ngủ (11,1%), lo âu (9,7%), đau đầu (9,7%), mất ngủ (8,8%), tăng triệu chứng tic (7,9%) và mệt mỏi (6,5%).

“No signals for clinically relevant weight gain, adverse metabolic effects, or drug-induced movement disorders were identified” (tạm dịch: “Nghiên cứu không ghi nhận bất kỳ dấu hiệu nào về tình trạng tăng cân có ý nghĩa lâm sàng, các biến cố chuyển hóa bất lợi hay rối loạn vận động do thuốc gây ra”), các tác giả nhấn mạnh.

Biến cố bất lợi nghiêm trọng xuất hiện ở 4 đối tượng nghiên cứu, trong đó có 2 trường hợp được đánh giá là có thể hoặc có khả năng liên quan đến điều trị ở 2 thanh thiếu niên có tiền sử rối loạn tâm thần liên quan: một đợt rối loạn điều hòa cảm xúc và hành vi cần nhập viện, và một trường hợp có ý tưởng tự sát nhưng không có hành vi tự sát.

Tỷ lệ ngưng dùng ecopipam do biến cố bất lợi chiếm 15,7% người tham gia, nguyên nhân thường gặp nhất là tăng triệu chứng tic (3,2%), lo âu (2,8%) hoặc buồn ngủ (2,8%).