Các kết quả nghiên cứu mới đây mang lại “implications for interpreting ultrasound findings in standard of care rheumatology practice and clinical research studies” (tạm dịch: “nhiều ý nghĩa quan trọng trong việc diễn giải kết quả siêu âm ở thực hành thấp khớp học thường quy cũng như trong các nghiên cứu lâm sàng”), theo nhận định của TS. Maria Antonietta D’Agostino (Đại học Công giáo Sacred Heart, Rome, Ý) và các cộng sự trên tạp chí The Lancet Rheumatology.

Nhóm nghiên cứu lưu ý rằng việc xác định viêm màng hoạt dịch trên siêu âm đã được đưa vào nhiều khuyến cáo nhằm khẳng định tình trạng viêm khớp. Tuy nhiên, việc phiên giải những hình ảnh này vốn “is predicated on the assumption that healthy individuals show no gradable ultrasound findings of synovitis (ie, grey scale synovial hypertrophy and synovial Doppler enhancement) or synovial effusion in all joints and across all age ranges.” (tạm dịch: “dựa trên giả định rằng ở người khỏe mạnh sẽ không phát hiện các dấu hiệu viêm màng hoạt dịch có thể phân độ trên siêu âm (cụ thể là phì đại màng hoạt dịch trên thang xám và tăng sinh mạch trên Doppler) hoặc tràn dịch khớp ở mọi vị trí và mọi lứa tuổi”).

Dẫu vậy, các y văn trước đây gợi ý rằng những người khỏe mạnh không triệu chứng vẫn có thể ghi nhận bằng chứng viêm khớp trên siêu âm khi tuổi tác tăng dần. Vì lẽ đó, các tác giả đã tiến hành nghiên cứu nhằm “provide age-related ultrasound thresholds to ensure that these subtle age-related changes are not considered as part of an inflammatory arthritis disease process.” (tạm dịch: “xây dựng các ngưỡng siêu âm theo độ tuổi nhằm tránh việc nhầm lẫn những biến đổi sinh lý tinh vi do tuổi tác với bệnh cảnh viêm khớp thực thụ”).

Nghiên cứu cắt ngang được triển khai tại 20 trung tâm thuộc 13 quốc gia, thu nhận 802 người khỏe mạnh không triệu chứng trong độ tuổi 18–80. Các đối tượng tham gia đều không có tiền sử hay hiện tại mắc bệnh lý khớp viêm, không có viêm khớp trên lâm sàng, không chấn thương khớp trong vòng 1 tháng trước đó, không thoái hóa khớp bàn tay, điểm đau khớp không vượt quá 10/100, không sử dụng corticosteroid trong 4 tuần gần nhất và không đang dùng thuốc chống viêm không steroid (NSAID), cùng một số tiêu chuẩn loại trừ khác.

Nhóm đối tượng nghiên cứu (72% là nữ; 81% là người da trắng) có đặc điểm nhân khẩu học đa dạng và được phân thành ba nhóm tuổi: 18–39 tuổi (n=351), 40–59 tuổi (n=302) và 60–80 tuổi (n=149), đại diện tương ứng cho người trẻ, trung niên và người cao tuổi.

Các đối tượng được siêu âm đánh giá hai bên ở các khớp bàn ngón tay (MCP) 1–5, liên đốt gần (PIP) 1–5, cổ tay và bàn ngón chân (MTP) 1–5. Hiện tượng phì đại màng hoạt dịch, tràn dịch khớp và tín hiệu mạch trên siêu âm Doppler được xác định theo định nghĩa EULAR–OMERACT cùng hệ thống phân độ bán định lượng.

Tỷ lệ người tham gia có ít nhất một khớp đạt điểm gộp EULAR–OMERACT lớn hơn 0 (theo thang điểm từ 0–3) – đồng nghĩa với sự hiện diện của viêm màng hoạt dịch – lên tới 84%, tương ứng với 13% trong tổng số 28.735 khớp được khảo sát.

Bằng chứng viêm màng hoạt dịch ở các khớp bình thường

Điểm gộp lớn hơn 0 xuất hiện nhiều nhất ở nhóm 70–80 tuổi và khu trú chủ yếu tại vùng khớp MTP 1–5, tiếp đến là MCP 1–5, PIP 1–5 và khớp cổ tay. Cụ thể, có 45% khớp MTP 1 và 39% khớp MTP 2 ghi nhận điểm lớn hơn 0, trong khi tỷ lệ thấp nhất được ghi nhận ở ngách trụ khớp cổ tay và khớp MTP 5 (đều ở mức 2%).

Các tác giả nhấn mạnh rằng “[s]ynovial hypertrophy, Doppler signal, and synovial effusion findings were rare” (tạm dịch: “tình trạng phì đại màng hoạt dịch, tín hiệu Doppler và tràn dịch khớp nhìn chung là hiếm gặp”), trong đó tín hiệu Doppler “rare throughout all joints in all age groups.” (tạm dịch: “rất hiếm gặp ở mọi vị trí khớp và trong tất cả các nhóm tuổi”).

Trong số 3.728 khớp có điểm gộp EULAR–OMERACT lớn hơn 0, có 30% chỉ phì đại màng hoạt dịch đơn thuần, 29% chỉ có tràn dịch khớp, 1% phối hợp phì đại màng hoạt dịch và có tín hiệu Doppler, và 1% có đầy đủ cả ba dấu hiệu gồm phì đại màng hoạt dịch, tín hiệu Doppler và tràn dịch khớp.

Hiện tượng phì đại màng hoạt dịch tại các khớp MTP không có sự khác biệt theo tuổi mà thay đổi tùy theo vị trí giải phẫu của khớp; ngược lại, tình trạng này tăng nhẹ theo tuổi tại các khớp MCP và PIP. Tại khớp cổ tay, mức độ phì đại màng hoạt dịch là không đáng kể ở mọi lứa tuổi.

Tỷ lệ tràn dịch khớp tăng dần theo tuổi ở các khớp MCP, PIP và cổ tay, đồng thời cũng thể hiện quy luật phân bố theo vị trí giải phẫu tương tự như tình trạng phì đại màng hoạt dịch.

Ngưỡng bất thường trên siêu âm theo từng độ tuổi

Dựa trên các dữ liệu thu thập được, nhóm nghiên cứu đã thiết lập một hệ thống ngưỡng bất thường với mốc phân cắt là 5% số khớp nằm ở phân vị cao nhất trong từng nhóm tuổi. Đáng chú ý nhất, “Doppler signal in any metacarpophalangeal, proximal interphalangeal, wrist, and metatarsophalangeal joint is likely to indicate pathology in all age groups,” (tạm dịch: “sự xuất hiện của tín hiệu Doppler tại bất kỳ khớp bàn ngón tay, liên đốt gần, khớp cổ tay hay bàn ngón chân nào nhiều khả năng đều gợi ý tổn thương bệnh lý ở mọi lứa tuổi”) dựa trên quy tắc tỷ lệ hiện mắc tích lũy 95%.

Bên cạnh đó, dấu hiệu bệnh lý được xem là có khả năng cao khi ghi nhận phì đại màng hoạt dịch từ độ 1 trở lên tại khớp MCP 5 cũng như tại các khớp PIP 1–5 ở mọi lứa tuổi; tuy nhiên, đối với các khớp PIP 1–3 ở người từ 60 tuổi trở lên, chỉ khi đạt mức độ 2 mới được xem là bất thường bệnh lý.

Đối với khớp MTP, ngưỡng bệnh lý được tính theo độ tăng dần từ các tia ngón ngoài vào trong ở mọi lứa tuổi; ví dụ, phì đại màng hoạt dịch được xem là bất thường từ độ 1 trở lên tại khớp MTP 5, nhưng phải từ độ 3 trở lên mới được coi là bệnh lý tại khớp MTP 1–2.

Tại khớp quay – cổ tay, phì đại màng hoạt dịch từ độ 2 trở lên là bất thường ở bất kỳ độ tuổi nào; trong khi đối với khớp gian cổ tay và khớp trụ – cổ tay, độ 1 trở lên là bất thường ở người từ 59 tuổi trở xuống, còn ở nhóm từ 60 tuổi trở lên phải từ độ 2. Đối với toàn bộ các khớp ở cổ tay, tràn dịch khớp từ độ 1 trở lên đều có khả năng chỉ điểm tổn thương bệnh lý.

Ngưỡng bất thường đối với tràn dịch khớp tại các khớp PIP, MCP và MTP cũng có sự khác biệt tùy theo độ tuổi và từng vị trí khớp cụ thể.

Trong một bài bình luận đi kèm, hai chuyên gia Ting Jiang và Guanghua Lei từ Bệnh viện Tương Nhã (Trường Sa, Trung Quốc) đánh giá công trình này “methodologically rigorous” (tạm dịch: “chặt chẽ về mặt phương pháp”), song cũng lưu ý rằng việc áp dụng trực tiếp các ngưỡng này vào thực hành lâm sàng có nguy cơ “under-recognising the earliest manifestations of inflammatory arthropathies.” (tạm dịch: “bỏ sót các biểu hiện sớm nhất của các bệnh lý khớp viêm”).

Ngoài ra, hai tác giả nhận định rằng dù ngưỡng hiện mắc 95% có thể “practical and statistically defensible, this approach reflects a convention rather than a biological truth,” (tạm dịch: “có tính thực tiễn và hợp lý về mặt thống kê, song cách tiếp cận này phản ánh một quy ước nhiều hơn là một chân lý sinh học”) và chưa đủ để khẳng định ý nghĩa lâm sàng.

Dù vậy, Jiang và Lei vẫn nhấn mạnh rằng nghiên cứu “represents an important advance in the standardisation of musculoskeletal ultrasound and provides a practical framework that will help anchor future diagnostic and longitudinal studies in better-defined reference standards.” (tạm dịch: “đại diện cho một bước tiến quan trọng trong việc chuẩn hóa siêu âm cơ xương khớp, đồng thời cung cấp một khung tham chiếu thực tiễn giúp định hướng các nghiên cứu chẩn đoán và theo dõi dọc trong tương lai dựa trên các tiêu chuẩn tham chiếu rõ ràng hơn”).