TS. Robert Weinreb (Đại học California, San Diego, Hoa Kỳ) và các cộng sự nhận định: “Our findings highlight the potential complementary value of incorporating OCTA into routine glaucoma monitoring to capture vascular loss that may precede conventional measures of damage” (tạm dịch: “Kết quả nghiên cứu của chúng tôi nhấn mạnh giá trị bổ trợ tiềm năng của việc đưa OCTA vào quy trình theo dõi glaucoma định kỳ, nhằm phát hiện tình trạng mất mạng lưới mạch máu vốn có thể diễn ra trước các tổn thương phát hiện được qua những thăm dò kinh điển”).
Tuy nhiên, các tác giả cũng ghi nhận rằng trên những mắt có bệnh lý ổn định, OCTA ghi nhận độ đặc hiệu thấp hơn đôi chút.
Lý giải về cơ sở triển khai nghiên cứu, nhóm của Weinreb cho biết: “previous longitudinal studies have shown that faster [vessel density] loss is associated with both concurrent and future [visual field] loss” (tạm dịch: “Các nghiên cứu theo dõi dọc trước đây đã chỉ ra rằng tốc độ suy giảm [mật độ mạch máu] nhanh hơn có liên quan đến sự suy thoái [thị trường] ở cả thời điểm hiện tại lẫn tương lai”).
Các tác giả phân tích thêm rằng dù “OCTA-derived vascular metrics are not routinely used for clinical progression assessment, understanding how vascular changes relate temporally to established structural and functional endpoints may help contextualize OCTA findings within a multimodal monitoring framework” (tạm dịch: “Các thông số vi mạch thu được từ OCTA chưa được ứng dụng thường quy để đánh giá tiến triển trên lâm sàng, nhưng việc hiểu rõ mối tương quan về mặt thời gian giữa các biến đổi mạch máu với các tiêu chí cấu trúc và chức năng chuẩn mực sẽ giúp xác định vị trí của OCTA trong mô hình theo dõi đa phương thức”).
Nghiên cứu tiến hành so sánh ba phương thức thăm dò trên 116 người trưởng thành (độ tuổi trung bình 67,6 tuổi; 52,6% là nữ) thuộc Nghiên cứu Đổi mới Chẩn đoán Glaucoma (Diagnostic Innovations in Glaucoma Study), đánh giá trên tổng cộng 180 mắt (gồm 111 mắt glaucoma giai đoạn có tổn thương thị trường và 69 mắt giai đoạn tiền thị trường). Người bệnh được theo dõi định kỳ mỗi 6 tháng bằng OCTA, OCT và đo thị trường từ tháng 1/2015 đến tháng 4/2023, với thời gian theo dõi tối thiểu 2 năm và có ít nhất bốn lần thăm khám được thực hiện đồng thời OCTA và OCT trong cùng một ngày.
Trong nhóm mắt đã có biến đổi thị trường, phần lớn (72,1%) thuộc giai đoạn glaucoma sớm (độ lệch trung bình [MD] > −6 dB), 27,9% còn lại ở giai đoạn trung bình hoặc tiến triển (MD ≤ −6 dB).
Sau thời gian theo dõi trung bình 5,1 năm, 59,4% số mắt ghi nhận tiến triển trên ít nhất một phương pháp thăm dò. Trong đó, gần một phần ba số mắt (32,2%) được phát hiện tiến triển qua OCTA, xác định bởi mức suy giảm mật độ mao mạch quanh gai thị trên 4,1% so với ban đầu trong ít nhất hai lần khám liên tiếp.
OCT ghi nhận tiến triển ở 25% số mắt, định nghĩa là tình trạng mỏng lớp sợi thần kinh võng mạc quanh gai thị trên 4,02 μm so với ban đầu trong ít nhất hai lần liên tiếp. Trong khi đó, đo thị trường phát hiện tiến triển ở 32,8% số mắt, xác định khi có sự suy giảm độ lệch mẫu (pattern deviation) tại từ ba điểm đo tương đồng trở lên, được khẳng định qua ba lần đánh giá liên tiếp so với giá trị trung bình của hai lần đo ban đầu.
Nhóm nghiên cứu nhận thấy: “agreement was higher between OCTA and [visual field] than between OCT and either modality” (tạm dịch: “Mức độ đồng thuận giữa OCTA và [thị trường] cao hơn so với sự đồng thuận giữa OCT với từng phương thức này”), đồng thời tình trạng “weak agreement” (tạm dịch: “đồng thuận yếu”) giữa OCTA và OCT có thể phản ánh việc hai phương thức này đang “capture complementary aspects of glaucomatous progression” (tạm dịch: “đánh giá các khía cạnh mang tính bổ trợ lẫn nhau của quá trình tiến triển glaucoma”).
Trong số 107 mắt có tiến triển bệnh, OCTA là phương thức đầu tiên và duy nhất phát hiện được tổn thương tiến triển ở 37,4% trường hợp; trong khi tỷ lệ này ở OCT là 29,9% và ở đo thị trường là 24,3%.
Đáng chú ý, ở những mắt phát hiện tiến triển sớm nhất bằng OCTA (n = 30) hoặc OCT (n = 16), khoảng thời gian dẫn trước (lead time) cho đến khi ghi nhận tiến triển tương ứng trên thị trường đạt mức trung bình lần lượt là 2,3 năm và 1,5 năm.
Kết quả này hoàn toàn phù hợp với các y văn trước đây khi ghi nhận: “ocular imaging can detect glaucoma worsening in glaucoma several years before [visual field] worsening is detectable” (tạm dịch: “Chẩn đoán hình ảnh nhãn khoa có thể phát hiện sự tăng nặng của bệnh glaucoma sớm hơn nhiều năm trước khi tổn thương [thị trường] bộc lộ rõ”).
Trên 45 mắt duy trì trạng thái ổn định, phân tích độ đặc hiệu cho thấy tỷ lệ cảnh báo tiến triển giả lần lượt là 31,1% đối với OCTA và 24,4% đối với OCT, tương đương độ đặc hiệu đạt 68,9% trên OCTA và 75,6% trên OCT.
Các tác giả giải thích thêm: “[S]ome earlier OCTA-based events may reflect measurement variability” (tạm dịch: “Một số biến cố phát hiện sớm trên OCTA có thể chỉ phản ánh sự dao động của phép đo”).
Từ các bằng chứng trên, nhóm nghiên cứu khuyến nghị nên nhìn nhận “complementary, rather than replacement, role for OCTA, OCT, and [visual field] testing” (tạm dịch: “Vai trò phối hợp bổ trợ thay vì thay thế lẫn nhau giữa OCTA, OCT và thăm dò [thị trường]”), đồng thời ủng hộ việc ứng dụng đo mật độ mạch máu trên OCTA “across the disease spectrum, including early glaucoma, in addition to its role in moderate to advanced stages where OCT metrics may reach a floor” (tạm dịch: “Trên mọi giai đoạn bệnh, bao gồm cả glaucoma giai đoạn sớm, bên cạnh giá trị đã biết ở các giai đoạn trung bình đến nặng – thời điểm mà các chỉ số cấu trúc trên OCT có thể đã chạm đáy hiệu ứng sàn”).