Tỷ lệ hoàn thành xét nghiệm trong vòng 21 ngày kể từ khi có chỉ định đạt 58,9% ở nhóm nhận tin nhắn nhắc nhở tự động, so với 49,8% ở nhóm được điều dưỡng gọi điện nhắc một lần duy nhất; mức chênh lệch tuyệt đối có ý nghĩa thống kê là 9,1 điểm phần trăm.
“Other randomized studies of text messaging for CRC [colorectal cancer] screening have reported similar improvements, although most assessed longer follow-up intervals” (tạm dịch: “Các nghiên cứu ngẫu nhiên khác về việc gửi tin nhắn phục vụ tầm soát ung thư đại trực tràng cũng ghi nhận mức cải thiện tương tự, dù phần lớn các nghiên cứu này theo dõi trong khoảng thời gian dài hơn”), TS. Leora Horwitz (Trường Y Grossman thuộc Đại học New York, Hoa Kỳ) cùng các cộng sự nhận định trên tạp chí JAMA Network Open.
Nhóm nghiên cứu nhấn mạnh thêm: “Our study adds evidence that effects can be observed earlier, within 3 weeks of the test order.” (tạm dịch: “Nghiên cứu của chúng tôi bổ sung bằng chứng cho thấy hiệu quả này có thể ghi nhận sớm hơn, ngay trong vòng 3 tuần sau khi có chỉ định xét nghiệm”).
Do đó, các tác giả cho rằng: “[a]utomated messaging may offer a scalable, low-cost strategy to promote preventive care and reduce staff burden in underserved populations.” (tạm dịch: “Hệ thống tin nhắn tự động có thể mang lại một chiến lược chi phí thấp, dễ nhân rộng nhằm thúc đẩy y tế dự phòng và giảm bớt gánh nặng công việc cho nhân viên y tế tại các quần thể cộng đồng còn nhiều khó khăn”).
Trong bài bình luận đi kèm, hai chuyên gia Mitesh Patel và Joshua Liao (Hệ thống y tế Ascension, St. Louis, Missouri, Hoa Kỳ) cũng đồng tình với quan điểm trên: “[d]esigning engagement around patient behavior rather than institutional tradition may be a critical lever for improving preventive care at scale.” (tạm dịch: “Thiết kế các can thiệp tương tác dựa trên hành vi của người bệnh thay vì theo thói quen hành chính truyền thống có thể là đòn bẩy then chốt để nâng cao hiệu quả y tế dự phòng trên diện rộng”).
Dù vậy, các tác giả nhấn mạnh sự cần thiết phải đánh giá thêm nhiều khía cạnh động, chẳng hạn như “how to position text messages within engagement strategies that reflect contemporary communication behavior and emerging advances in AI […] across diverse care settings and populations.” (tạm dịch: “cách thức định vị tin nhắn văn bản trong các chiến lược tương tác nhằm phản ánh thói quen giao tiếp đương đại và ứng dụng những tiến bộ mới của trí tuệ nhân tạo […] trên nhiều bối cảnh lâm sàng và quần thể dân cư khác nhau”).
Thử nghiệm được triển khai tại 8 Trung tâm Y tế Đạt chuẩn Liên bang (FQHC) ở New York, gồm 1.275 người trưởng thành mới được chỉ định làm xét nghiệm FIT, không từ chối nhận tin nhắn SMS và sử dụng ngôn ngữ giao tiếp chính là tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha hoặc tiếng Trung.
Gần hai phần ba (63,6–64,4%) đối tượng nghiên cứu là nữ giới và khoảng một nửa là người gốc Tây Ban Nha/Bồ Đào Nha (50,6–50,7%).
Trong số 649 người bệnh được phân bổ ngẫu nhiên vào nhóm nhận 3 tin nhắn nhắc nhở tự động vào các ngày thứ 2, thứ 5 và thứ 8 sau khi có chỉ định FIT, tỷ lệ hoàn thành xét nghiệm ở mốc 7 ngày đạt 32,7%. Con số này cao hơn về mặt số học so với mức 27,6% ở 626 người bệnh thuộc nhóm đối chứng chỉ nhận một cuộc gọi nhắc nhở từ điều dưỡng vào ngày thứ 8.
Đến ngày thứ 14, tỷ lệ hoàn thành xét nghiệm tương ứng ở hai nhóm lần lượt là 54,2% và 40,3%; sự khác biệt giữa hai nhóm tại thời điểm này đã đạt ý nghĩa thống kê.
Nhóm nghiên cứu của Horwitz cũng ghi nhận: trong số 457 người bệnh thuộc nhóm gọi điện đủ điều kiện nhận cuộc gọi can thiệp (đã loại trừ những trường hợp hoàn thành FIT trước ngày thứ 7), điều dưỡng chỉ liên hệ trực tiếp thành công với chưa đầy một nửa (45,7%), phải để lại lời nhắn thoại ở 14,7%, liên lạc không thành công 4,4%, và có tới 35,2% trường hợp không có dữ liệu cuộc gọi.
Các tác giả phân tích: “Although live communication may be more motivating under ideal conditions, our findings illustrate a trade-off between effectiveness and reliable delivery in clinical practice” (tạm dịch: “Dù trao đổi trực tiếp có thể tạo động lực tốt hơn trong điều kiện lý tưởng, kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có sự đánh đổi giữa hiệu quả trên lý thuyết và khả năng tiếp cận bệnh nhân một cách ổn định trong thực hành lâm sàng”).
Nhóm điều tra viên nhận định rằng “[b]ehavioral design features may also have contributed to this program’s effectiveness” (tạm dịch: “Các yếu tố thiết kế dựa trên tâm lý hành vi cũng có thể đã góp phần tạo nên hiệu quả của can thiệp này”), tiêu biểu là việc gửi 3 tin nhắn nhắc nhở riêng biệt, dựa trên các bằng chứng y văn cho thấy “multiple reminders are more effective than a single reminder” (tạm dịch: “nhắc nhở nhiều lần đạt hiệu quả cao hơn nhắc nhở đơn lẻ”).
Bên cạnh đó, các tin nhắn “also incorporated gain-framed wording (‘this test could save your life’) and a social norms cue (‘your provider is waiting’)” (tạm dịch: “còn lồng ghép thông điệp nhấn mạnh lợi ích [‘xét nghiệm này có thể cứu sống bạn’] và kích hoạt chuẩn mực xã hội [‘bác sĩ điều trị đang chờ kết quả của bạn’]”). Đây là những yếu tố đã được chứng minh có khả năng định hướng hành vi trong các y văn trước đây, dù các tác giả lưu ý rằng “effects are generally small and variable” (tạm dịch: “mức độ tác động nhìn chung còn khiêm tốn và có sự dao động”).
Từ những phát hiện này, các nhà nghiên cứu kết luận: “Future work should focus on optimizing message content and frequency to prevent message fatigue, identifying which behavioral components are most effective, and ensuring these strategies remain impactful across diverse patient populations and settings.” (tạm dịch: “Các nghiên cứu tiếp theo cần tập trung tối ưu hóa nội dung và tần suất gửi tin nhằm tránh hiện tượng quá tải tin nhắn cho người bệnh, xác định rõ thành tố hành vi nào mang lại hiệu quả cao nhất, đồng thời bảo đảm các chiến lược này duy trì được tác động tích cực trên nhiều nhóm bệnh nhân và môi trường chăm sóc y tế khác nhau”).