“These results suggest that public health interventions aimed at reducing smoking-related dementia risk should consider not only the promotion of smoking cessation but also weight management with quitting to maximize the health benefits” (tạm dịch: “Những kết quả này cho thấy các can thiệp y tế công cộng nhằm giảm nguy cơ sa sút trí tuệ liên quan đến hút thuốc lá không chỉ nên dừng lại ở việc khuyến khích cai thuốc, mà còn cần kết hợp quản lý cân nặng sau cai để tối ưu hóa lợi ích sức khỏe”), theo TS. Hui Chen (Bệnh viện trực thuộc số 1, Trường Y khoa Đại học Chiết Giang, Hàng Châu, Trung Quốc) và các cộng sự.

Nhóm nghiên cứu đã phân tích dữ liệu từ Nghiên cứu Sức khỏe và Hưu trí Hoa Kỳ (Health and Retirement Study) giai đoạn 1995–2020 trên 32.802 cá nhân chưa từng mắc sa sút trí tuệ. Quần thể nghiên cứu chủ yếu là người da trắng (73,4%), 57,1% là nữ giới và độ tuổi trung bình là 60,5 tuổi.

Tại thời điểm ban đầu, 20,4% đối tượng tham gia đang hút thuốc lá, 36,4% đã từng hút thuốc và 43,2% chưa từng hút thuốc.

Sau thời gian theo dõi kéo dài 25 năm (trung vị 9,9 năm), có 5.868 trường hợp khởi phát sa sút trí tuệ, được chẩn đoán thông qua các thang đo chức năng nhận thức khách quan kết hợp phỏng vấn người đại diện.

Sau khi hiệu chỉnh theo tuổi tác, các yếu tố kinh tế – xã hội, lối sống và bệnh lý đồng mắc, kết quả cho thấy nhóm từng hút thuốc và nhóm chưa từng hút thuốc có nguy cơ tiến triển sa sút trí tuệ thấp hơn có ý nghĩa thống kê lần lượt là 17% và 25% so với nhóm vẫn duy trì hút thuốc.

Các tác giả ghi nhận nguy cơ sa sút trí tuệ giảm dần tương ứng với thời gian ngừng hút thuốc kéo dài. Ở những người cai thuốc thành công trong thời gian nghiên cứu, mức giảm nguy cơ sa sút trí tuệ là 16% so với người đang hút thuốc; tỷ lệ này đạt mức 21% ở những người đã ngừng hút thuốc từ trước khi nghiên cứu bắt đầu.

“[T]he risk approached those of never smokers and plateaued at around 7 years after cessation” (tạm dịch: “Nguy cơ giảm dần về mức tương đương với nhóm chưa từng hút thuốc và duy trì ở mức ổn định sau khoảng 7 năm cai thuốc”), các nhà nghiên cứu báo cáo. Tuy nhiên, nhóm tác giả cũng lưu ý khoảng tin cậy 95% “relatively wide” (tạm dịch: “tương đối rộng”), vì vậy cần thận trọng khi diễn giải kết luận này.

Mặc dù việc từ bỏ thuốc lá mang lại hiệu quả rõ rệt trong việc giảm thiểu nguy cơ sa sút trí tuệ, nhóm nghiên cứu của Chen nhận thấy lợi ích này chỉ khu trú ở những cá nhân không tăng cân hoặc chỉ tăng cân khiêm tốn ở mức 0,1–5,0 kg sau cai. So với nhóm tiếp tục hút thuốc, những người này có mức giảm nguy cơ sa sút trí tuệ lần lượt là 17% và 27%. Ngược lại, nhóm cai thuốc nhưng tăng từ 5,1–10,0 kg không ghi nhận mức giảm nguy cơ có ý nghĩa thống kê. Những cá nhân tăng trên 10,0 kg sau khi cai thuốc thậm chí còn có xu hướng tăng nhẹ nguy cơ sa sút trí tuệ, dù sự khác biệt này chưa đạt mức ý nghĩa thống kê.

Lợi ích bảo tồn nhận thức từ việc bỏ thuốc lá không xuất hiện ngay lập tức, mà thể hiện qua “a slower subsequent rate of cognitive decline compared with participants who continued smoking” (tạm dịch: “tốc độ suy giảm nhận thức về sau diễn ra chậm hơn đáng kể so với những người tiếp tục hút thuốc”).

Cụ thể, trên 3.419 người cai thuốc trong quá trình nghiên cứu được đánh giá chức năng nhận thức lặp lại (bao gồm khả năng gợi lại thông tin, làm phép trừ 7 liên tiếp và đếm ngược) trên thang điểm 27, tốc độ suy giảm nhận thức đã chậm lại 0,19 điểm mỗi thập kỷ (có ý nghĩa thống kê) so với nhóm người tiếp tục hút.

Các tác giả nhận định con số này “corresponds to an approximately 15% slower rate of age-related cognitive decline” (tạm dịch: “tương đương với việc làm chậm khoảng 15% tốc độ suy giảm nhận thức liên quan đến tuổi tác”), dựa trên thực tế là mỗi 10 năm tuổi thọ tăng thêm đi kèm với mức suy giảm trung bình 1,2 điểm nhận thức.

Khi xét đến yếu tố tăng cân sau cai thuốc, tốc độ suy giảm nhận thức chỉ chậm lại rõ rệt ở những người không tăng cân hoặc tăng dưới 5,0 kg; với mức giảm suy giảm nhận thức là 0,23 điểm mỗi thập kỷ so với người không bỏ thuốc, tương đương với tốc độ suy giảm nhận thức chậm hơn 20%.

Kết quả này một lần nữa “reinforcing the notion that excessive weight gain may negate some of the cognitive benefits associated with smoking cessation” (tạm dịch: “củng cố thêm quan điểm rằng tăng cân quá mức có thể triệt tiêu một phần lợi ích nhận thức thu được từ việc cai thuốc lá”), nhóm tác giả nhấn mạnh.

Nhóm nghiên cứu khuyến nghị các công trình trong tương lai cần “explore the mechanisms by which weight gain may influence brain health and investigate potential interventions to support both smoking cessation and weight management in aging populations” (tạm dịch: “làm sáng tỏ cơ chế tác động của hiện tượng tăng cân lên sức khỏe não bộ, đồng thời tìm kiếm các biện pháp can thiệp khả thi nhằm hỗ trợ song hành việc cai thuốc lá và quản lý cân nặng ở quần thể người cao tuổi”).