Trên tạp chí The Lancet Gastroenterology & Hepatology, GS. Rohit Loomba (Đại học California, San Diego, Hoa Kỳ) cùng các cộng sự nhận định: “Significant reductions in liver fat and evidence of target engagement along with reductions in atherogenic lipid and lipoprotein levels and a safety profile similar to placebo, suggest that ALG-055009 could offer a promising treatment approach to patients with [metabolic dysfunction-associated steatotic liver disease] or MASH” (tạm dịch: “Tác dụng giảm rõ rệt lượng mỡ trong gan, bằng chứng gắn kết đích hiệu quả cùng sự sụt giảm các chỉ số lipid và lipoprotein gây vữa xơ, đi kèm hồ sơ an toàn tương đương giả dược cho thấy ALG-055009 có thể mang lại hướng tiếp cận điều trị đầy hứa hẹn cho người bệnh [gan thoái hóa mỡ liên quan rối loạn chuyển hóa] hoặc MASH”).
Thử nghiệm được tiến hành trên 102 người tham gia (tuổi trung bình 50; 62% là nữ giới) có chỉ số khối cơ thể (BMI) từ 25 kg/m2 trở lên (trung bình 39 kg/m2) và nghi ngờ mắc MASH có xơ hóa gan giai đoạn F1–F3. Các đối tượng được phân ngẫu nhiên dùng ALG-055009 đường uống (liều 0,3 mg; 0,5 mg; 0,7 mg hoặc 0,9 mg) hoặc giả dược mỗi ngày một lần trong 12 tuần.
Ở thời điểm ban đầu, tỷ lệ mỡ gan trung bình của toàn bộ đoàn hệ nghiên cứu – được đo lường bằng kỹ thuật cộng hưởng từ định lượng phân suất mỡ theo mật độ proton (MRI-PDFF) – là 18,6%.
ALG-055009 giúp giảm rõ rệt lượng mỡ trong gan
Nhóm nghiên cứu ghi nhận sau 12 tuần can thiệp, lượng mỡ trong gan đã thuyên giảm ở tất cả các nhóm sử dụng ALG-055009. Mức giảm tương đối trung bình bình phương tối thiểu (LS-mean relative reduction) lần lượt đạt 6,9% ở 18 bệnh nhân dùng liều 0,3 mg; 11,2% ở 21 bệnh nhân dùng liều 0,5 mg; 25,9% ở 20 bệnh nhân dùng liều 0,7 mg và 24,3% ở 17 bệnh nhân dùng liều 0,9 mg.
Trái lại, ở 21 bệnh nhân thuộc nhóm giả dược, lượng mỡ gan lại tăng thêm 7,3%. Nhờ đó, sự khác biệt giữa ALG-055009 và giả dược đạt ý nghĩa thống kê ở hầu hết các mức liều, ngoại trừ nhóm 0,3 mg.
Nhóm của GS. Loomba cũng lưu ý rằng mức liều ALG-055009 0,9 mg chỉ được chỉ định cho những đối tượng có cân nặng trên 85 kg. Nhóm tác giả bình luận: “Given the inverse correlation between bodyweight and exposure for ALG-055009, it is unknown whether absence of a weight restriction on the 0.9 mg dose would have resulted in further reductions in liver fat and is a variable that would also require further evaluation in future clinical studies” (tạm dịch: “Do có mối tương quan nghịch giữa cân nặng và mức độ phơi nhiễm thuốc của ALG-055009, hiện vẫn chưa rõ liệu việc không giới hạn cân nặng ở mức liều 0,9 mg có giúp giảm mỡ gan sâu hơn nữa hay không; đây là biến số cần được tiếp tục đánh giá trong các nghiên cứu lâm sàng tương lai”).
Tỷ lệ giảm ít nhất 30% mỡ gan đạt tối ưu ở các mức liều cao
Phân tích sâu hơn cho thấy người bệnh dùng ALG-055009 liều 0,7 mg hoặc 0,9 mg có cơ hội đạt mức giảm tương đối từ 30% lượng mỡ gan trở lên ở tuần thứ 12 cao hơn có ý nghĩa thống kê so với giả dược (lần lượt gấp 28,2 và 11,2 lần). Tỷ lệ đáp ứng tương ứng ở hai nhóm này đạt 70,0% và 58,8%, vượt trội so với mức 9,5% ở nhóm giả dược. Trong khi đó, các đối tượng dùng mức liều thấp hơn không cho thấy sự khác biệt đáng kể so với nhóm chứng về tiêu chí này.
Đáng chú ý, phân tích dưới nhóm ở hai mức liều cao nhất khẳng định hiệu quả giảm mỡ gan diễn ra nhất quán, không bị ảnh hưởng bởi tuổi, giới tính, chủng tộc, lượng mỡ gan ban đầu, tình trạng mắc đái tháo đường típ 2, hay việc đang duy trì ổn định thuốc đồng vận thụ thể GLP-1 hoặc statin.
Không ghi nhận tín hiệu bất lợi đáng ngại về tính an toàn
Tỷ lệ gặp biến cố bất lợi khởi phát trong quá trình điều trị (TEAE) lần lượt là 65%, 45%, 65% và 61% ở các nhóm dùng ALG-055009 liều 0,3 mg, 0,5 mg, 0,7 mg và 0,9 mg; so với 73% ở nhóm giả dược. Nhóm nghiên cứu nhận thấy phần lớn các TEAE chỉ ở mức độ nhẹ đến trung bình, chủ yếu là các triệu chứng đường tiêu hóa và không phụ thuộc vào mức liều.
Bên cạnh đó, nghiên cứu không phát hiện bất kỳ biến đổi có ý nghĩa lâm sàng nào trên các xét nghiệm cận lâm sàng, điện tâm đồ, dấu hiệu sinh tồn, thăm khám thể chất hay chức năng tuyến giáp.
GS. Loomba cùng các cộng sự kết luận rằng kết quả thử nghiệm này “supports further clinical development [of ALG-055009] in participants with MASH, including evaluation of longer durations of ALG-055009 and its effect on liver histology” (tạm dịch: “ủng hộ việc tiếp tục phát triển lâm sàng [ALG-055009] trên các đối tượng mắc MASH, bao gồm việc đánh giá thời gian điều trị dài hơn cũng như tác động của thuốc lên mô học gan”).