Dữ liệu này “expand on evidence from previous clinical trials by showing that TPT has protective benefit in real-world settings across diverse epidemiological contexts, even among people with HIV on ART who are virologically suppressed” (tạm dịch: “mở rộng thêm bằng chứng từ các thử nghiệm lâm sàng trước đây khi chứng minh TPT mang lại lợi ích bảo vệ trong bối cảnh thực tế ở nhiều điều kiện dịch tễ khác nhau, ngay cả trên nhóm người nhiễm HIV đang điều trị ART đã đạt ức chế tải lượng virus”), theo nhận định của TS. Sarita Shah (Đại học Emory, Atlanta, Georgia, Hoa Kỳ) và các cộng sự trên tạp chí The Lancet HIV.
Nhóm tác giả giải thích rằng, dù các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng (RCT) trước đây từng ghi nhận TPT giúp giảm tỷ lệ mắc lao và tử vong ở người nhiễm HIV, song hiệu quả thực tế của can thiệp này vẫn chưa được đánh giá toàn diện kể từ khi tiếp cận điều trị ART được mở rộng cho toàn bộ người nhiễm HIV mà không còn phụ thuộc vào số lượng tế bào CD4.
Để giải quyết khoảng trống này, nhóm nghiên cứu đã tiến hành nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu PROTECT, mô phỏng lại 6 thử nghiệm RCT dựa trên dữ liệu bệnh án điện tử của 235.424 người nhiễm HIV bắt đầu điều trị ART (trong đó nữ giới chiếm 57%) tại Haiti, Kenya, Nigeria, Uganda, Ukraine và Zimbabwe. Phần lớn người tham gia (63%) trong độ tuổi 25–44, 44% ở giai đoạn lâm sàng 1 và 59% được điều trị bằng các phác đồ ART nền tảng dolutegravir.
Các tác giả cho biết họ đã ứng dụng thiết kế mô phỏng thử nghiệm đích (target trial emulation) nhằm ước tính mối quan hệ nhân quả giữa TPT và tỷ lệ mắc lao, bởi phương pháp này “addresses known biases of observational data, including immortal time bias, lead time bias, and selection bias” (tạm dịch: “giải quyết được các sai số cố hữu trong dữ liệu quan sát, bao gồm sai số thời gian bất tử, sai số phát hiện sớm và sai số chọn mẫu”).
Sau khi hiệu chỉnh các yếu tố gây nhiễu tiềm ẩn bao gồm tuổi, giới tính, số lượng tế bào CD4, tải lượng virus, giai đoạn lâm sàng, thời điểm khởi động ART và mức độ tuân thủ điều trị, các nhà nghiên cứu nhận thấy: nhìn chung, nhóm bệnh nhân bắt đầu phác đồ TPT bằng isoniazid trong 6 tháng trong vòng 8 tuần kể từ khi tiếp nhận chăm sóc HIV có nguy cơ mắc lao trong vòng 2 năm giảm tới 61% (có ý nghĩa thống kê) so với nhóm chưa từng nhận TPT. Mức độ giảm nguy cơ này không có sự khác biệt đáng kể giữa các quốc gia, dao động từ 40% ở Kenya đến 65% ở Haiti (đều có ý nghĩa thống kê).
Nhóm tác giả cũng báo cáo rằng việc chỉ định TPT nói chung liên quan đến mức giảm có ý nghĩa thống kê 45% nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân sau 2 năm so với việc không chỉ định. Trong phân tích này, hiệu quả có sự thay đổi rõ rệt giữa các quốc gia, với mức giảm nguy cơ tử vong dao động từ 31% ở Zimbabwe đến 75% ở Uganda (đều có ý nghĩa thống kê).
Ngoại lệ duy nhất được ghi nhận tại Nigeria, nơi mức giảm tỷ lệ mắc lao và tỷ lệ tử vong sau 2 năm khi dùng TPT chưa đạt mức có ý nghĩa thống kê.
Phân tích độ nhạy gợi ý rằng khởi động TPT càng sớm thì mức độ giảm tỷ lệ mắc lao cũng như tử vong do mọi nguyên nhân càng lớn. Cụ thể, các nhà nghiên cứu nhấn mạnh: nếu TPT được bắt đầu trong vòng 2 tuần kể từ khi vào quy trình chăm sóc HIV, nguy cơ gộp về mắc lao và tử vong do mọi nguyên nhân giảm lần lượt là 68% và 48% (có ý nghĩa thống kê) so với nhóm không dùng TPT; tương ứng với việc tăng thêm 7% và 3% hiệu quả bảo vệ so với việc cho phép thời gian trì hoãn kéo dài 8 tuần.
TS. Shah và các cộng sự kết luận: “In an era of universal test-and-treat and new ART regimens, these data reinforce support for TPT as essential in HIV care” (tạm dịch: “Trong kỷ nguyên xét nghiệm và điều trị toàn diện cùng với các phác đồ ART thế hệ mới, các dữ liệu này càng củng cố vai trò thiết yếu của TPT trong chăm sóc và điều trị HIV”).
Nhóm nghiên cứu bổ sung: “Although this study evaluated a 6-month isoniazid regimen, future research needs to assess the impact of new, short-course TPT on tuberculosis incidence and mortality while simultaneously targeting the structural barriers that delay TPT initiation within real-world clinics” (tạm dịch: “Dù nghiên cứu này chỉ đánh giá phác đồ isoniazid 6 tháng, các nghiên cứu trong tương lai cần tiếp tục khảo sát hiệu quả của những phác đồ TPT ngắn ngày thế hệ mới đối với tỷ lệ mắc lao và tử vong, đồng thời tháo gỡ các rào cản mang tính hệ thống đang làm chậm trễ việc chỉ định TPT trong thực hành lâm sàng thực tế”).