Dù thuốc đối kháng thụ thể CGRP (calcitonin gene-related peptide) atogepant và thuốc kinh điển không đặc hiệu topiramate “are established as effective oral migraine preventive treatments, their usefulness in clinical practice hinges on patients’ ability to tolerate treatment” (tạm dịch: “đều đã được khẳng định về hiệu quả dự phòng đau nửa đầu đường uống, song giá trị thực tế trên lâm sàng lại phụ thuộc then chốt vào khả năng dung nạp thuốc của người bệnh”), theo Giáo sư Uwe Reuter (Bệnh viện Đại học Charité Berlin, Đức) cùng các cộng sự.
Nhóm nghiên cứu nhấn mạnh trên tạp chí The Lancet Neurology rằng thử nghiệm pha 3b TEMPLE đã củng cố thêm “guideline, consensus, and position statement recommendations for CGRP-targeted treatments as first-line preventive options” (tạm dịch: “các khuyến cáo từ hướng dẫn điều trị, đồng thuận và tuyên bố đồng thuận về việc ưu tiên nhóm thuốc tác động lên CGRP làm lựa chọn điều trị dự phòng hàng đầu”), đồng thời có thể “guide clinicians in selecting the most appropriate preventive therapy for their patients” (tạm dịch: “định hướng cho các bác sĩ lâm sàng trong việc cá thể hóa và tối ưu phác đồ dự phòng cho từng người bệnh”).
Xuất phát từ thực tế người bệnh đau nửa đầu cần dung nạp tốt và tuân thủ điều trị lâu dài với một phác đồ hiệu quả, tiêu chí chính của nghiên cứu tập trung vào khả năng dung nạp, được đánh giá thông qua tỷ lệ ngừng điều trị do các biến cố bất lợi xuất hiện trong quá trình điều trị (TEAEs) trong 24 tuần.
Trong số 273 bệnh nhân đau nửa đầu được phân ngẫu nhiên dùng atogepant 60 mg một lần mỗi ngày, chỉ có 12% trường hợp phải ngừng thuốc, thấp hơn đáng kể so với mức 30% ở nhóm 267 người bệnh dùng topiramate một lần mỗi ngày (được chỉnh liều và duy trì ở mức dung nạp tối đa 50 mg, 75 mg hoặc 100 mg). Phân bố liều duy trì hàng ngày của topiramate lần lượt là 23%, 16% và 61%.
Tiêu chuẩn chọn bệnh bao gồm tiền sử đau nửa đầu ít nhất 12 tháng với thời điểm khởi phát trước 50 tuổi, đồng thời ghi nhận tối thiểu 4 ngày đau nửa đầu mỗi tháng trong 28 ngày trước nghiên cứu cũng như mức trung bình 3 tháng liền kề. Độ tuổi trung bình của đối tượng tham gia là 40 tuổi (dao động từ 18–80 tuổi), phần lớn là nữ giới (89%) và người da trắng (96%).
Đáng lưu ý, 40% người bệnh từng sử dụng các thuốc dự phòng đau nửa đầu trước đây và 28% đạt tiêu chuẩn chẩn đoán đau nửa đầu mạn tính.
Các tác giả ghi nhận đa số trường hợp ngưng thuốc ở nhóm topiramate diễn ra trong giai đoạn 6 tuần chỉnh liều, “indicating higher rates of early discontinuation” (tạm dịch: “cho thấy tỷ lệ ngưng điều trị sớm ở mức cao”).
Tỷ lệ biến cố bất lợi (TEAE) liên quan đến điều trị nói chung là 56% ở nhóm atogepant và 78% ở nhóm topiramate. Các tác dụng không mong muốn thường gặp nhất gồm dị cảm (5% so với 41%), buồn nôn (20% so với 16%) và mệt mỏi (15% so với 14%). Biến cố bất lợi nghiêm trọng xảy ra ở mức 2% (nhóm atogepant) và 1% (nhóm topiramate), trong đó chỉ có duy nhất một trường hợp phản vệ ở nhóm atogepant được xác định là liên quan đến thuốc nghiên cứu; không có trường hợp tử vong nào được ghi nhận.
Các tiêu chí phụ về hiệu lực cũng chứng minh lợi thế nghiêng về atogepant. Cụ thể, 64% trong tổng số 270 bệnh nhân dùng atogepant đạt mức giảm ít nhất 50% số ngày đau nửa đầu trung bình hàng tháng trong giai đoạn từ tháng thứ 4 đến tháng thứ 6 của chu kỳ theo dõi 52 tuần, vượt trội hơn hẳn con số 39% ở 257 bệnh nhân dùng topiramate (sự khác biệt có ý nghĩa thống kê tương ứng với nguy cơ tương đối RR = 1,6 nghiêng về nhóm thuốc đối kháng thụ thể CGRP).
Mức giảm số ngày đau nửa đầu trung bình mỗi tháng so với ban đầu ở nhóm atogepant cũng vượt trội hơn rõ rệt so với topiramate, với mức giảm trung bình bình phương tối thiểu là 6,3 ngày so với 4,5 ngày.
Nhóm nghiên cứu của Reuter chỉ ra rằng bên cạnh hai tiêu chí hiệu quả kể trên, lợi ích của atogepant còn thể hiện qua các chỉ số chức năng, với “clinically meaningful improvements” (tạm dịch: “những cải thiện có ý nghĩa trên lâm sàng”) tại thời điểm 24 tuần ở các khía cạnh: giảm mức độ tàn phế do đau đầu, phục hồi khả năng tham gia hoạt động xã hội, hiệu suất làm việc và mức độ cải thiện sức khỏe tổng thể do người bệnh tự đánh giá.
Bên cạnh đó, chức năng nhận thức ở tuần thứ 6 (được lượng giá bằng thang đo PROMIS-CF 6 mục) cũng ghi nhận sự cải thiện rõ rệt hơn ở nhóm atogepant so với topiramate, thể hiện qua mức giảm điểm trung bình bình phương tối thiểu từ mức nền 47 điểm lần lượt là 5,2 điểm so với 0,2 điểm. Mức chênh lệch 5,0 điểm giữa hai nhóm đã vượt ngưỡng khác biệt tối thiểu có ý nghĩa lâm sàng (3,0 điểm).
Các tác giả kết luận rằng việc can thiệp sớm bằng các thuốc điều trị đặc hiệu đau nửa đầu “might mitigate the progression to high-frequency and chronic migraine, thereby reducing functional impairment and health-care costs” (tạm dịch: “có thể làm chậm nguy cơ tiến triển sang đau nửa đầu tần suất cao hoặc mạn tính, qua đó hạn chế tình trạng suy giảm chức năng và giảm bớt gánh nặng chi phí y tế”).
Đồng quan điểm trong bài bình luận đi kèm, Giáo sư Cristina Tassorelli từ Đại học Pavia (Ý) nhận định rằng với các bằng chứng ngày càng phong phú, bao gồm cả thử nghiệm TEMPLE, “the rationale for requiring patients to have tried and not responded to less well tolerated conventional therapies before accessing CGRP-targeted treatments becomes increasingly difficult to justify” (tạm dịch: “quan điểm bắt buộc người bệnh phải thử và thất bại với các liệu pháp kinh điển vốn kém dung nạp trước khi được tiếp cận các thuốc nhắm trúng đích CGRP ngày càng trở nên thiếu thuyết phục”).