Kết quả điều trị ở nhóm bệnh nhân này tương đương với nhóm mang kiểu gen không nặng. TS. Janet Kwiatkowski (Đại học Pennsylvania, Philadelphia, Hoa Kỳ) cùng các cộng sự nhận định rằng: “[b]eti-cel provides a potentially curative treatment option through attainment of transfusion independence and near-normal haemoglobin [Hb] levels” (tạm dịch: “Beti-cel mang lại một lựa chọn điều trị có tiềm năng chữa khỏi bệnh nhờ khả năng giúp bệnh nhân không còn phụ thuộc truyền máu và duy trì nồng độ hemoglobin [Hb] gần như bình thường”).
Trong công bố trên tạp chí The Lancet, nhóm tác giả giải thích cơ chế tác dụng của beti-cel là bổ sung các bản sao chức năng của gen β-globin biến đổi vào tế bào gốc và tiền thân tạo máu (HSPC), thông qua các tế bào CD34+ tự thân được chuyển nạp bằng vector lentivirus BB305.
Hiệu quả của liệu pháp được đánh giá trong thử nghiệm quốc tế HGB-212 gồm 18 bệnh nhân TDT thể nặng có tình trạng lâm sàng ổn định (kiểu gen β0/β0, β0/β+IVS-I-110, hoặc β+IVS-I-110/β+IVS-I-110). Tiêu chuẩn nhận bệnh bao gồm tiền sử truyền tối thiểu 100 mL khối hồng cầu (pRBC)/kg/năm hoặc ít nhất 8 đợt truyền pRBC mỗi năm trong 2 năm trước khi tham gia nghiên cứu. Độ tuổi trung vị của nhóm nghiên cứu là 12,5 tuổi, trong đó 56% là nam giới và đa số (72%) dưới 18 tuổi.
Mỗi người bệnh được truyền beti-cel sau khi trải qua quá trình huy động HSPC và phác đồ điều hòa diệt tủy bằng busulfan, sau đó được theo dõi định kỳ trong 24 tháng. Toàn bộ người bệnh sau đó đều đồng thuận tiếp tục tham gia nghiên cứu theo dõi dài hạn kéo dài 13 năm hiện đang được triển khai.
Sau thời gian theo dõi trung vị 47,9 tháng, có 16 bệnh nhân (88,9%) đạt và duy trì được trạng thái không phụ thuộc truyền máu—được định nghĩa là nồng độ Hb trung bình theo trọng số đạt từ 9 g/dL trở lên mà không cần truyền khối hồng cầu trong tối thiểu 12 tháng liên tục.
Cụ thể hơn, 7 trong số 8 bệnh nhân (87,5%) dưới 12 tuổi, toàn bộ 5 bệnh nhân (100%) trong độ tuổi 12–17, và 4 trong số 5 bệnh nhân (80,0%) từ 18 tuổi trở lên đạt được mục tiêu không cần truyền máu.
Phân tích theo phân nhóm di truyền, tỷ lệ độc lập với truyền máu đạt 91,7% ở 12 bệnh nhân mang kiểu gen β⁰/β⁰ và đạt 83,3% ở 6 bệnh nhân có kiểu gen β+IVS-I-¹¹⁰/β+IVS-I-¹¹⁰ hoặc β+IVS-I-¹¹⁰/β⁰.
Tất cả các trường hợp đạt trạng thái độc lập truyền máu đều duy trì bền vững kết quả này cho tới thời điểm đánh giá gần nhất, với thời gian duy trì trung vị ghi nhận là 38,7 tháng.
Tại mốc 24 tháng, nồng độ Hb trung bình theo trọng số trung vị trong giai đoạn không truyền máu đạt 10,5 g/dL, Hb toàn phần tự thân không cần hỗ trợ đạt 10,6 g/dL, và lượng Hb có nguồn gốc từ liệu pháp gen đạt trung vị 9,1 g/dL. Nhóm nghiên cứu nhấn mạnh rằng số liệu này cho thấy mức Hb toàn phần “driven by the production of gene addition therapy-derived haemoglobin” (tạm dịch: “được tạo ra chủ yếu nhờ lượng hemoglobin sinh ra từ liệu pháp bổ sung gen”).
Các tác giả cũng lưu ý thêm rằng: “[t]he safety profile of the beti-cel treatment regimen was generally consistent with known effects of mobilisation and apheresis, busulfan-based myeloablative conditioning, and [hematopoietic stem cell transplantation]” (tạm dịch: “Hồ sơ an toàn của phác đồ beti-cel nhìn chung tương đồng với các ảnh hưởng đã biết từ quá trình huy động và gạn tách tế bào, điều hòa diệt tủy bằng busulfan và [ghép tế bào gốc tạo máu]”).
Sau khi truyền beti-cel, tất cả bệnh nhân đều xuất hiện ít nhất một biến cố bất lợi liên quan đến điều trị (TEAE) từ độ 3 trở lên; thường gặp nhất là hạ tiểu cầu (94%) và giảm bạch cầu trung tính (89%). Các biến cố bất lợi được xác định có liên quan đến beti-cel xảy ra ở 22% bệnh nhân, phổ biến nhất là đau bụng (11%); phần lớn các biến cố này chỉ ở độ 1 hoặc độ 2, ngoại trừ một trường hợp hạ tiểu cầu miễn dịch độ 3. Không có trường hợp tử vong nào trong quá trình theo dõi.
TS. Kwiatkowski và cộng sự kết luận: “Our study results demonstrate that the modifications made to the cell manufacturing process and protocol following phase 1/2 studies of beti-cel led to a marked improvement in outcomes for patients with β⁰/β⁰, β⁰/β+IVS-I-¹¹⁰, or β+IVS-I-¹¹⁰/ β+IVS-I-¹¹⁰ genotypes, and lentiviral vector-based gene therapy can successfully produce transfusion independence in both adult and paediatric patients” (tạm dịch: “Kết quả nghiên cứu của chúng tôi chứng minh rằng những cải tiến trong quy trình sản xuất tế bào và phác đồ sau các thử nghiệm pha 1/2 của beti-cel đã mang lại sự cải thiện rõ rệt về kết cục lâm sàng cho bệnh nhân mang kiểu gen β⁰/β⁰, β⁰/β+IVS-I-¹¹⁰, hoặc β+IVS-I-¹¹⁰/β+IVS-I-¹¹⁰; đồng thời khẳng định liệu pháp gen sử dụng vector lentivirus có thể giúp cả bệnh nhi lẫn người trưởng thành không còn phụ thuộc vào truyền máu”).