Hiệu quả bảo vệ thận khi so sánh với nhóm ức chế dipeptidyl peptidase-4 (DPP-4i) chỉ thể hiện rõ rệt ở nhóm bệnh nhân có albumin niệu, theo báo cáo của TS. Alexander Turchin (Bệnh viện Brigham and Women’s, Boston, Massachusetts, Hoa Kỳ) và các cộng sự trên tạp chí The BMJ.
Nhóm nghiên cứu nhận định rằng kết quả này “underscore the importance of considering albuminuria when making treatment decisions for people with type 2 diabetes at risk of declining renal function” (tạm dịch: “nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đánh giá albumin niệu khi đưa ra quyết định điều trị cho bệnh nhân đái tháo đường típ 2 có nguy cơ suy giảm chức năng thận”).
Thử nghiệm lâm sàng mô phỏng đích (emulated target trial) này đã phân tích dữ liệu quan sát từ 75.455 bệnh nhân đái tháo đường típ 2 (độ tuổi trung vị là 60 tuổi, 52% nam giới), có nguy cơ tim mạch mức độ trung bình, mức lọc cầu thận ước tính (eGFR) từ 45 mL/phút/1,73 m2 trở lên và đang đơn trị liệu bằng metformin.
Nhóm bệnh nhân có albumin niệu
Trong số này, có 13.872 bệnh nhân ghi nhận tình trạng albumin niệu (tỷ số albumin/creatinine niệu UACR ≥ 30 mg/g) tại thời điểm ban đầu. Trong giai đoạn 2014–2022, có 34,0% bệnh nhân được khởi trị với nhóm GLP-1 RA hoặc SGLT-2i, 49,4% dùng sulfonylurea và 16,6% bắt đầu với DPP-4i.
Sau thời gian theo dõi trung vị 32 tháng, có 2,5% bệnh nhân có albumin niệu tiến triển đến biến cố suy giảm chức năng thận (được định nghĩa là nồng độ creatinine huyết thanh tăng gấp đôi hoặc eGFR giảm xuống dưới 15 mL/phút/1,73 m2).
Các tác giả báo cáo nguy cơ suy giảm chức năng thận tích lũy sau 5 năm ước tính đạt 3,2% ở nhóm dùng GLP-1 RA hoặc SGLT-2i, 4,6% ở nhóm chỉ định sulfonylurea và 5,4% ở nhóm sử dụng DPP-4i.
Sự khác biệt giữa các nhánh tương ứng với mức giảm 40% nguy cơ suy giảm chức năng thận có ý nghĩa thống kê khi sử dụng GLP-1 RA hoặc SGLT-2i so với DPP-4i; ngược lại, không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm dùng sulfonylurea và DPP-4i.
Nhóm bệnh nhân không có albumin niệu
Đối với 61.583 bệnh nhân có mức albumin niệu bình thường (UACR < 30 mg/g), tỷ lệ bắt đầu điều trị trong giai đoạn nghiên cứu lần lượt là 34,6% với GLP-1 RA hoặc SGLT-2i, 46,8% với sulfonylurea và 18,6% với DPP-4i.
Nhìn chung, chỉ 1,3% bệnh nhân có mức albumin niệu bình thường gặp phải biến cố suy giảm chức năng thận. Nguy cơ suy thoái chức năng thận sau 5 năm ước tính là 2,4% ở nhóm dùng GLP-1 RA hoặc SGLT-2i, 2,8% ở nhóm dùng sulfonylurea và 2,1% ở nhóm dùng DPP-4i.
Phân tích trên nhóm này cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về nguy cơ suy giảm chức năng thận giữa phác đồ GLP-1 RA hoặc SGLT-2i so với DPP-4i. Tuy nhiên, người bệnh dùng sulfonylurea lại có nguy cơ suy giảm chức năng thận cao hơn 31% có ý nghĩa thống kê so với nhóm sử dụng DPP-4i.
TS. Turchin và các cộng sự kết luận: “Prevention of deterioration of kidney function in people without albuminuria remains a challenge” (tạm dịch: “Phòng ngừa suy giảm chức năng thận ở bệnh nhân không có albumin niệu vẫn là một thách thức lớn”).
Các tác giả nhấn mạnh thêm: “Further research is needed to identify treatments that can prevent progression of kidney disease in the large population of people with type 2 diabetes and normoalbuminuria” (tạm dịch: “Cần tiến hành thêm các nghiên cứu nhằm tìm ra các biện pháp can thiệp có khả năng ngăn ngừa tiến triển bệnh thận trên quần thể rộng lớn bệnh nhân đái tháo đường típ 2 có albumin niệu bình thường”).