Lợi ích của thuốc được ghi nhận độc lập với mục tiêu điều trị ban đầu và “support arguments for widespread early use of SGLT2 inhibitors to reduce the global burden of kidney disease, and simplification of current guidance on whom to treat,” (tạm dịch: “củng cố luận điểm ủng hộ việc khởi trị sớm và rộng rãi nhóm ức chế SGLT2 nhằm giảm bớt gánh nặng bệnh thận trên toàn cầu, đồng thời đơn giản hóa các khuyến cáo hiện hành về đối tượng chỉ định”) theo nhận định của TS. William Herrington (Khoa Y tế Dân số Nuffield, Đại học Oxford, Vương quốc Anh) và các cộng sự trên tạp chí The Lancet Diabetes & Endocrinology.
Nhóm tác giả nhấn mạnh thêm: “The findings also provide reassuring data for prescribers regarding kidney safety and acute eGFR dips, and should discourage routine remeasurement of eGFR after initiation in most individuals.” (tạm dịch: “Những phát hiện này cung cấp dữ liệu an tâm cho các bác sĩ điều trị về độ an toàn trên thận cũng như hiện tượng sụt giảm eGFR cấp, đồng thời không khuyến khích việc xét nghiệm lại eGFR thường quy sau khi khởi trị ở hầu hết bệnh nhân.”)
Các nhà nghiên cứu phân tích rằng dù thuốc ức chế SGLT2 đã được xem là tiêu chuẩn điều trị ở bệnh nhân mắc bệnh thận mạn (CKD) hoặc suy tim (HF) bất kể có đái tháo đường hay không, tác động của nhóm thuốc này lên cục diện thận vẫn chưa thực sự rõ ràng ở một số phân nhóm cụ thể. Trong đó bao gồm những trường hợp có nguy cơ sụt giảm eGFR cấp biên độ lớn khi vừa dùng thuốc, cũng như những người có nguy cơ tiến triển CKD ở mức thấp.
Để làm rõ vấn đề này, Herrington và cộng sự đã thực hiện phân tích gộp trên dữ liệu cá thể từ 23.340 người tham gia (độ tuổi trung bình 66 tuổi, 67% là nam giới) thuộc 4 thử nghiệm lâm sàng lớn có đối chứng với giả dược của empagliflozin. Quần thể này gồm 7.020 bệnh nhân đái tháo đường típ 2 kèm bệnh tim mạch do xơ vữa từ thử nghiệm EMPA-REG OUTCOME, 6.609 bệnh nhân CKD có nguy cơ tiến triển từ EMPA-KIDNEY, và 9.711 bệnh nhân suy tim từ các thử nghiệm EMPEROR-Reduced và EMPEROR-Preserved.
Kết quả phân tích cho thấy nhóm bệnh nhân dùng empagliflozin giảm 20% nguy cơ tổn thương thận cấp (AKI) – được định nghĩa là nồng độ creatinine huyết thanh tăng từ 50% trở lên ở các mẫu xét nghiệm theo dõi liên tiếp – so với nhóm dùng giả dược, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.
Bên cạnh đó, empagliflozin cũng làm giảm đáng kể nguy cơ xảy ra biến cố bất lợi do AKI (giảm 27%), biến cố tiến triển CKD (suy thận hoặc eGFR giảm kéo dài ít nhất 40% so với ban đầu, giảm 30%) và biến cố suy thận (giảm 34%) khi so sánh với giả dược.
Phân tích dưới nhóm cho thấy lợi ích bảo vệ của empagliflozin duy trì nhất quán, không phụ thuộc vào mức độ sụt giảm eGFR cấp dự đoán (đo lường qua tỷ lệ phần trăm thay đổi trong giai đoạn đầu từ 4 tuần đến 2 tháng), cũng như không bị ảnh hưởng bởi tình trạng đái tháo đường, suy tim, nguyên nhân nền của bệnh thận, mức độ albumin niệu hay các chỉ dấu mức độ nặng khác của bệnh.
Sau giai đoạn sụt giảm eGFR cấp tính ban đầu, empagliflozin giúp làm chậm tốc độ suy giảm eGFR mạn tính hàng năm tới 64% so với nhánh giả dược.
Đáng lưu ý, hiệu quả làm chậm tốc độ suy giảm eGFR mạn tính đạt mức cao nhất ở nhóm bệnh nhân đái tháo đường (74%), nhưng hiệu quả này vẫn thể hiện rõ ở nhóm không mắc đái tháo đường có mức albumin niệu thấp, với tốc độ suy giảm chậm hơn 47% so với giả dược.
Ngoài ra, nhóm can thiệp bằng empagliflozin còn giảm được 25% nguy cơ đối với tiêu chí gộp tử vong do nguyên nhân tim mạch hoặc nhập viện vì suy tim, và giảm 30% nguy cơ nhập viện do suy tim đơn thuần so với nhóm dùng giả dược; mức độ giảm lợi ích tim mạch này cũng đồng nhất ở các nhóm phân loại theo biên độ sụt giảm eGFR cấp dự đoán.
Trong bài bình luận đi kèm, hai chuyên gia Carmine Zoccali và Francesca Mallamaci (Hiệp hội Tăng huyết áp, Thận học và Ghép thận thuộc Bệnh viện Great Metropolitan, Reggio Calabria, Ý) nhận định rằng nghiên cứu này “consolidates the renoprotective effects of SGLT2 inhibition and addresses uncertainties that have persisted in clinical practice and research.” (tạm dịch: “củng cố thêm hiệu quả bảo vệ thận của nhóm ức chế SGLT2 và giải tỏa những băn khoăn còn tồn tại lâu nay trong thực hành lâm sàng cũng như nghiên cứu.”)
Hai chuyên gia nhận xét thêm: “Herrington and colleagues provide robust evidence to support the early and broad use of SGLT2 inhibitors in CKD, irrespective of albuminuria or diabetes status. The demonstration that the acute eGFR dip […] does not attenuate the long-term kidney benefits or confer excess risk of AKI is particularly reassuring.” (tạm dịch: “Herrington cùng các cộng sự đã cung cấp bằng chứng thuyết phục ủng hộ việc sử dụng sớm và rộng rãi nhóm ức chế SGLT2 trong bệnh thận mạn, bất kể tình trạng albumin niệu hay đái tháo đường. Việc chứng minh hiện tượng sụt giảm eGFR cấp […] không làm suy giảm lợi ích bảo vệ thận lâu dài cũng như không làm tăng nguy cơ tổn thương thận cấp mang lại sự an tâm rất lớn.”)
Các tác giả khẳng định dữ liệu lâm sàng mới “should dispel lingering concerns among clinicians and patients and could prompt a re-evaluation of current guidance, which often recommends routine early eGFR monitoring after SGLT2 inhibitor initiation.” (tạm dịch: “sẽ giúp xua tan những quan ngại kéo dài ở cả thầy thuốc lẫn người bệnh, đồng thời có thể thúc đẩy việc đánh giá lại các hướng dẫn điều trị hiện nay – vốn thường khuyến nghị theo dõi eGFR định kỳ sớm sau khi khởi trị bằng thuốc ức chế SGLT2.”)
Đồng thuận với nhóm tác giả Herrington, Zoccali và Mallamaci tin rằng “[t]he data suggest that such monitoring might be unnecessary for most individuals, supporting a streamlined, population-based approach to SGLT2 inhibitor use.” (tạm dịch: “Dữ liệu nghiên cứu cho thấy việc theo dõi như vậy có thể không cần thiết đối với phần lớn bệnh nhân, qua đó ủng hộ một tiếp cận tinh gọn, ở quy mô quần thể đối với việc sử dụng thuốc ức chế SGLT2.”)