TS. Ann Hellström (Đại học Gothenburg, Thụy Điển) cùng các cộng sự nhận định trên tạp chí JAMA Pediatrics: “Although not statistically significant, the findings from this RCT [randomized controlled trial] suggest a potential benefit of topical dexamethasone in preventing the need for invasive ROP treatment.” (tạm dịch: “Mặc dù không đạt ý nghĩa thống kê, các kết quả từ thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng này cho thấy tiềm năng của dexamethasone nhỏ mắt trong việc giảm thiểu nhu cầu can thiệp ROP xâm lấn.”)
Nhóm nghiên cứu nhận thấy dexamethasone nhỏ mắt giúp giảm 47% nguy cơ tiến triển từ ROP tiền ngưỡng type 2 sang ROP type 1 cần can thiệp xâm lấn so với giả dược. Dù chưa đạt mục tiêu kỳ vọng ban đầu là 60%, các tác giả đánh giá đây vẫn là “clinically meaningful effect size” (tạm dịch: “mức độ hiệu quả có ý nghĩa lâm sàng”).
Đồng quan điểm, TS. Gil Binenbaum (Bệnh viện Nhi Philadelphia, Pennsylvania, Hoa Kỳ) trong bài xã luận đi kèm đã mô tả nghiên cứu này “well designed and well executed” (tạm dịch: “được thiết kế và thực hiện bài bản”), đồng thời mức độ tác dụng điều trị của dexamethasone nhỏ mắt so với giả dược là “substantial” (tạm dịch: “rất đáng kể”).
Hơn nữa, ông ghi nhận “no clinically meaningful differences were observed in growth, glucose abnormalities, sepsis, cataract, or elevated intraocular pressure” (tạm dịch: “không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa lâm sàng về phát triển thể chất, rối loạn đường huyết, nhiễm trùng huyết, đục thủy tinh thể hay tăng nhãn áp”) giữa hai nhánh điều trị.
Tuy vậy, các tác giả vẫn thận trọng lưu ý: “larger RCTs are needed before adoption into national guidelines to ensure optimal care and confirmed safety and to identify potential subgroups of infants who may benefit most.” (tạm dịch: “cần có các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng quy mô lớn hơn trước khi đưa vào phác đồ quốc gia nhằm đảm bảo hiệu quả chăm sóc tối ưu, khẳng định tính an toàn và xác định các phân nhóm trẻ có thể hưởng lợi nhiều nhất.”)
Nhóm của Hellström giải thích rằng, trong khi ROP type 1 là tình trạng nặng đòi hỏi can thiệp xâm lấn thì ROP type 2 đóng vai trò là giai đoạn tiền ngưỡng. Có tới 10% trẻ mắc ROP type 2 được tầm soát sẽ phải can thiệp laser xâm lấn hoặc tiêm nội nhãn thuốc ức chế yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu (anti-VEGF), “both of which have limitations and adverse effects.” (tạm dịch: “cả hai phương pháp này đều tồn tại những hạn chế và biến cố bất lợi.”)
Xuất phát từ thực tế dexamethasone được ứng dụng rộng rãi trong điều trị viêm tại mắt, cùng các dữ liệu thử nghiệm sơ bộ và hồi cứu gợi ý thuốc có thể làm chậm tiến triển sang ROP type 1, nhóm nghiên cứu đã triển khai thử nghiệm DROPROP. Nghiên cứu thực hiện trên trẻ sinh non trước 30 tuần tuổi thai mắc ROP type 2 tại 14 bệnh viện từ tháng 9/2022 đến tháng 10/2025. Tiêu chuẩn ROP type 2 bao gồm: giai đoạn 1 hoặc 2 không kèm bệnh dấu cộng (plus disease – biến đổi mạch máu hoạt động) ở vùng I, hoặc giai đoạn 2 hay 3 ở vùng II phía sau không kèm bệnh dấu cộng.
Xu hướng giảm tỷ lệ tiến triển sang ROP type 1 cần can thiệp xâm lấn
Các bệnh nhi được phân ngẫu nhiên dùng dexamethasone 1 mg/mL hoặc giả dược trong tối đa 12 tuần: nhỏ 1 giọt mỗi mắt cách ngày đối với ROP giai đoạn 1 hoặc 2, và nhỏ 1 giọt mỗi mắt mỗi ngày đối với giai đoạn 3. Liều dùng được điều chỉnh linh hoạt dựa trên mức độ thoái triển hay tiến triển của tổn thương, đồng thời ngừng thuốc nếu bắt đầu can thiệp điều trị ROP type 1. Khi dừng can thiệp, số giọt được giảm liều dần xuống 1 giọt mỗi mắt cách ngày trong vòng 1 tuần.
Trong số 166 trẻ đủ tiêu chuẩn, có 100 trẻ được cha mẹ đồng thuận tham gia, với 58% là bé trai. Tuổi thai trung bình khi sinh là 25,1 tuần và cân nặng sơ sinh trung bình đạt 712,9 g. Thời gian can thiệp trung vị là 5,3 tuần; trong đó 17 trẻ dùng đủ liệu trình 12 tuần và 2 trẻ dùng dưới 1 tuần. Trẻ ở nhóm dexamethasone nhận mức trung vị 71 giọt, so với 74 giọt ở nhóm giả dược.
Phân tích theo ý định điều trị (ITT) cho thấy dexamethasone nhỏ mắt có liên quan đến xu hướng giảm tỷ lệ can thiệp laser hoặc tiêm anti-VEGF (20,0% so với 38,0% ở nhóm giả dược). Kết quả này tương ứng với tỷ suất chênh thô (OR) là 0,41; và OR hiệu chỉnh theo tuổi thai cùng trung tâm nghiên cứu là 0,44 (p=0,08), chưa đạt mức ý nghĩa thống kê.
Các tác giả cũng lưu ý có thêm 5 trẻ ở nhóm dexamethasone và 2 trẻ ở nhóm giả dược phải can thiệp xâm lấn “at the discretion of local ophthalmologists, despite guidance from the steering committee that these infants did not meet the established treatment criteria.” (tạm dịch: “theo quyết định riêng của các bác sĩ nhãn khoa tại cơ sở, dù ban điều hành nghiên cứu đã hướng dẫn rằng những bệnh nhi này chưa đủ tiêu chuẩn can thiệp theo quy chuẩn.”)
Nhóm nghiên cứu nhận định cỡ mẫu có thể chưa đủ lực thống kê để phát hiện sự khác biệt có ý nghĩa về hiệu quả trì hoãn tiến triển sang ROP type 1 của dexamethasone so với giả dược. Mức độ hiệu quả kỳ vọng 60% có thể đã “overestimated” (tạm dịch: “bị ước tính cao hơn thực tế”) do dựa trên số liệu từ một nghiên cứu sơ bộ mở nhãn sử dụng liều cao hơn; đồng thời tỷ lệ biến cố ở nhóm chứng lại “lower than expected […] potentially reflecting temporal changes in neonatal care that may have influenced baseline risk.” (tạm dịch: “thấp hơn dự kiến […] có thể phản ánh những cải tiến trong chăm sóc sơ sinh theo thời gian, từ đó làm thay đổi mức nguy cơ nền.”)
Tính an toàn được ghi nhận tốt
Dexamethasone nhỏ mắt thể hiện một “clinically acceptable safety profile” (tạm dịch: “hồ sơ an toàn chấp nhận được trên lâm sàng”). Tỷ lệ biến cố bất lợi không có sự khác biệt đáng kể giữa hai nhóm (70,6% ở nhóm dexamethasone so với 73,5% ở nhóm giả dược). Không ghi nhận tình trạng tăng nhãn áp toàn thể so với ban đầu ở cả hai nhánh can thiệp. Tỷ lệ có ít nhất một lần đo nhãn áp vượt ngưỡng 20 mmHg là 25,5% ở nhóm điều trị thuốc và 20,4% ở nhóm chứng.
Tỷ lệ biến cố bất lợi nghiêm trọng lần lượt là 64,7% ở nhóm dexamethasone và 73,5% ở nhóm giả dược, toàn bộ đều không liên quan đến can thiệp điều trị. Có 3 trường hợp nhiễm khuẩn huyết khẳng định ở nhóm dexamethasone và 2 trường hợp ở nhóm giả dược.
Bình luận về vấn đề này, TS. Binenbaum nhấn mạnh: “Dexamethasone eye drops do appear to reduce progression of severe ROP, and as this topical treatment appears to be safe, this is a major, potentially landmark finding.” (tạm dịch: “Dexamethasone nhỏ mắt dường như làm giảm tiến triển của ROP thể nặng, và với mức độ an toàn ghi nhận được, đây là một phát hiện lớn có tiềm năng tạo nên bước ngoặt.”)
Nhấn mạnh rằng “ultimate goal of ROP care is to reduce ROP-related blindness to zero” (tạm dịch: “mục tiêu tối hậu trong quản lý ROP là xóa bỏ hoàn toàn tình trạng mù lòa do ROP”), điều này đòi hỏi chiến lược “earlier and earlier interventions” (tạm dịch: “can thiệp ngày càng sớm hơn”), ông đề xuất: “we consider incorporating dexamethasone eye drops into clinical practice now to treat ROP earlier in its course, farther upstream from type 1 ROP and the acute risk of progression to retinal detachment and blindness.” (tạm dịch: “chúng ta nên cân nhắc đưa dexamethasone nhỏ mắt vào thực hành lâm sàng ngay từ bây giờ để điều trị ROP ở giai đoạn sớm hơn, can thiệp từ giai đoạn trước khi tiến triển thành ROP type 1 và ngăn ngừa nguy cơ cấp tính dẫn đến bong võng mạc cũng như mù lòa.”)