Theo bài báo của TS. Li Zhang (Trung tâm Ung bướu Đại học Tôn Trung Sơn, Quảng Châu) cùng các cộng sự công bố trên tạp chí The New England Journal of Medicine, Tam-Peli không chỉ kéo dài có ý nghĩa thống kê thời gian sống còn không tiến triển (PFS) và nâng cao tỷ lệ đáp ứng khách quan, mà còn ghi nhận tỷ lệ biến cố bất lợi (AE) từ độ 3 trở lên thấp hơn so với topotecan.

Nhóm nghiên cứu nhận định: “These findings support the use of tambotatug pelitecan as a new second-line treatment option for relapsed small-cell lung cancer” (tạm dịch: “Các kết quả này củng cố việc sử dụng tambotatug pelitecan như một lựa chọn điều trị bước hai mới cho ung thư phổi tế bào nhỏ tái phát”), đồng thời cho biết thêm: “A phase 3 trial evaluating tambotatug pelitecan in combination with a PD-1 inhibitor for the first-line treatment of small-cell lung cancer is ongoing” (tạm dịch: “Một thử nghiệm pha 3 đánh giá tambotatug pelitecan kết hợp với thuốc ức chế PD-1 trong điều trị bước một cho ung thư phổi tế bào nhỏ hiện đang được tiến hành”).

Lý giải về bối cảnh nghiên cứu, các tác giả nhấn mạnh rằng “robust evidence of a favorable survival benefit from new treatment regimens remains limited for patients with relapsed small-cell lung cancer that progresses during or after initial platinum-based therapy” (tạm dịch: “bằng chứng vững chắc về lợi ích sống còn vượt trội từ các phác đồ mới vẫn còn rất hạn chế ở nhóm bệnh nhân ung thư phổi tế bào nhỏ tái phát hoặc tiến triển trong và sau hóa trị phác đồ chuẩn chứa platinum”).

Do đó, nhóm nghiên cứu đã đánh giá Tam-Peli, một phức hợp kháng thể – thuốc (ADC) mới nhắm vào phân tử kiểm soát miễn dịch B7-H3, vốn đã cho thấy “encouraging antitumor efficacy in advanced solid tumors” (tạm dịch: “hiệu quả kháng u đầy hứa hẹn trên các khối u đặc tiến triển”) trong một thử nghiệm pha 1/1b gần đây.

Trong thử nghiệm pha 3 TAISHAN-302, 451 bệnh nhân ung thư phổi tế bào nhỏ tái phát sau phác đồ bước một chứa platinum có kết hợp (87,1%) hoặc không kết hợp (13,9%) với thuốc ức chế PD-1/PD-L1 tại Trung Quốc (trung vị 62 tuổi, 83% là nam giới) đã được tuyển chọn. Các đối tượng được phân ngẫu nhiên để điều trị bằng Tam-Peli truyền tĩnh mạch 2,0 mg/kg vào ngày 1 của mỗi chu kỳ 3 tuần (n=225) hoặc topotecan 1,2 mg/m2 vào các ngày 1–5 (n=226) cho đến khi bệnh tiến triển hoặc xuất hiện độc tính không dung nạp.

Sau thời gian theo dõi trung vị từ 9,2–9,5 tháng, tiêu chí phụ chính về OS ở nhóm Tam-Peli dài hơn rõ rệt so với topotecan, đạt trung vị 13,3 tháng so với 9,4 tháng; tương ứng với tỷ số nguy cơ (HR) tử vong là 0,46 nghiêng về phía nhóm dùng ADC.

Điều trị bằng Tam-Peli cũng kéo dài vượt trội trung vị PFS so với topotecan, lần lượt là 7,4 tháng và 2,8 tháng (HR đối với tiến triển hoặc tử vong là 0,29). Ngoài ra, tỷ lệ đáp ứng khách quan ở nhóm Tam-Peli cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm topotecan (59,1% so với 9,7%), dù thời gian duy trì đáp ứng trung vị ở nhóm Tam-Peli có phần ngắn hơn (6,3 so với 7,8 tháng).

Efficacy does not come at the cost of safety

Nhóm của Zhang nhấn mạnh rằng “the survival benefit from tambotatug pelitecan was achieved without an increase in the risk of high-grade adverse events” (tạm dịch: “lợi ích sống còn từ tambotatug pelitecan đạt được mà không làm gia tăng nguy cơ gặp biến cố bất lợi mức độ nặng”).

Cụ thể, tỷ lệ xuất hiện biến cố bất lợi từ độ 3 trở lên là 55,4% ở nhóm dùng Tam-Peli và 77,9% ở nhóm dùng topotecan. Các biến cố nặng thường gặp nhất ở nhánh Tam-Peli gồm giảm bạch cầu hạt trung tính (21,0%), giảm bạch cầu (19,2%), giảm tế bào lympho (13,4%), giảm tiểu cầu (12,5%) và thiếu máu (10,7%). Trong khi đó, ở nhánh topotecan, giảm tiểu cầu chiếm tỷ lệ cao nhất (54,8%), kế đến là giảm bạch cầu hạt trung tính (35,5%), giảm bạch cầu (32,3%), thiếu máu (23,5%) và giảm lympho (9,2%).

Có 11 trường hợp (4,9%) ở nhóm Tam-Peli xuất hiện bệnh phổi kẽ hoặc viêm phổi kẽ, so với 3 trường hợp (1,4%) ở nhóm topotecan.

Tỷ lệ bệnh nhân cần giảm liều do biến cố bất lợi ở nhóm Tam-Peli thấp hơn so với nhóm topotecan (28,1% so với 37,3%), nhưng tỷ lệ phải ngừng điều trị hoàn toàn lại cao hơn đôi chút (7,1% so với 3,7%).

Trong số 9 ca tử vong liên quan đến biến cố bất lợi ở nhóm Tam-Peli, không có trường hợp nào được đánh giá là liên quan đến thuốc nghiên cứu; trái lại, có 1 trong số 6 ca tử vong ở nhóm topotecan được xác định có liên quan đến điều trị.

Nhìn chung, dù “[t]he safety profile of tambotatug pelitecan was consistent with that in an earlier phase 1–1b trial, without identification of additional safety concerns” (tạm dịch: “hồ sơ an toàn của tambotatug pelitecan nhất quán với các dữ liệu từ thử nghiệm pha 1-1b trước đó và không ghi nhận thêm mối lo ngại an toàn mới nào”), các tác giả vẫn lưu ý cần “continued surveillance for myelosuppression and pulmonary effects” (tạm dịch: “tiếp tục theo dõi chặt chẽ tình trạng ức chế tủy xương và các độc tính trên phổi”).

Nhóm nghiên cứu cũng thừa nhận hạn chế của thử nghiệm khi chỉ tuyển chọn bệnh nhân tại Trung Quốc, do đó cần có “validation in more geographically and demographically diverse populations […] before the findings can be extrapolated globally” (tạm dịch: “các kiểm chứng trên những quần thể đa dạng hơn về mặt địa lý và nhân khẩu học […] trước khi có thể ngoại suy kết quả ra phạm vi toàn cầu”).

Dù vậy, Zhang và các cộng sự tin tưởng rằng Tam-Peli “provides an additional treatment option for patients with relapsed small-cell lung cancer, for whom limited therapeutic options are available” (tạm dịch: “mang đến thêm một lựa chọn điều trị giá trị cho bệnh nhân ung thư phổi tế bào nhỏ tái phát – nhóm đối tượng hiện có rất ít giải pháp điều trị hiệu quả”).