“This research provides further evidence that couples-focused HIV interventions can have a significant positive effect on important HIV-related behaviours and health outcomes around the time of pregnancy,” (tạm dịch: “Nghiên cứu này củng cố thêm bằng chứng cho thấy các can thiệp HIV tập trung vào cặp đôi có thể mang lại tác động tích cực rõ rệt lên những hành vi then chốt và kết cục sức khỏe liên quan đến HIV trong giai đoạn mang thai”), TS. Janet Turan (Đại học Alabama tại Birmingham, Hoa Kỳ) cùng các cộng sự ghi nhận trên tạp chí The Lancet HIV.
Nhóm tác giả lý giải rằng dù tư vấn và xét nghiệm HIV cho cặp đôi (CHTC) đã được chứng minh giúp cải thiện việc tuân thủ dự phòng và điều trị HIV trong thai kỳ, “[s]trategies to increase uptake often require, invite, or incentivize male partners of pregnant women to join them at the antenatal clinic” (tạm dịch: “các chiến lược nhằm tăng mức độ tiếp cận thường đòi hỏi, mời gọi hoặc khuyến khích bạn đời nam giới cùng thai phụ đến phòng khám tiền sản”).
Điều này có thể “unsafe for pregnant women in contexts where HIV disclosure without sufficient support can lead to intimate partner violence or relationship dissolution,” (tạm dịch: “không an toàn cho thai phụ trong những hoàn cảnh mà việc bộc lộ tình trạng nhiễm HIV thiếu đi sự hỗ trợ thỏa đáng có thể dẫn đến bạo lực từ bạn đời hoặc đổ vỡ hôn nhân”), các nhà nghiên cứu lưu ý.
Thử nghiệm này đánh giá các hướng tiếp cận thay thế, bao gồm việc tiếp cận các cặp đôi tại nhà thông qua đội ngũ tư vấn viên cộng đồng, hoặc cung cấp bộ tự xét nghiệm HIV theo cặp cho thai phụ để họ chủ động quyết định việc chia sẻ với bạn đời.
Tổng cộng 800 cặp đôi mang thai cùng hoặc khác biệt về tình trạng nhiễm HIV (độ tuổi trung vị 26 ở nữ và 32 ở nam) từ 24 phòng khám tiền sản tại các hạt Migori và Kisumu (Kenya) được phân ngẫu nhiên vào nhóm thăm khám tại nhà (n=267), nhóm tự xét nghiệm HIV (n=266) hoặc nhóm chăm sóc chuẩn (n=267), và được theo dõi trong 18 tháng sau sinh.
Ở nhóm thăm khám tại nhà, nhân viên tư vấn cộng đồng đến hỗ trợ trực tiếp 5 lần để trao đổi về sức khỏe, kỹ năng gìn giữ mối quan hệ và cung cấp dịch vụ CHTC tại nhà. Ở nhóm tự xét nghiệm, thai phụ nhận các bộ tự xét nghiệm HIV để cùng sử dụng với bạn đời. Trong khi đó, nhóm chăm sóc chuẩn tiếp cận các dịch vụ sức khỏe chu sinh thường quy tại cơ sở y tế, bao gồm việc chỉ định xét nghiệm HIV cho cá nhân và cặp đôi.
Tại thời điểm ban đầu, 65,6% phụ nữ tự báo cáo có kết quả xét nghiệm HIV dương tính, so với 2,8% ở nam giới. Mô hình cặp đôi phổ biến nhất là nam giới không nhiễm HIV sống cùng phụ nữ nhiễm HIV (61,3%).
Tư vấn và tự xét nghiệm giúp tăng gấp bốn lần tỷ lệ tiếp cận CHTC
TS. Turan và cộng sự ghi nhận tại thời điểm 12 tháng sau sinh, tỷ lệ tham gia CHTC ở nhóm thăm khám tại nhà và nhóm tự xét nghiệm HIV lần lượt cao gấp 4,22 lần và 3,69 lần so với nhóm chăm sóc chuẩn, sau khi đã hiệu chỉnh theo trình độ học vấn, điều kiện kinh tế, thời gian gắn kết của mối quan hệ, tiền sử xét nghiệm cặp đôi và khoảng cách tuổi giữa hai người. Tỷ lệ tiếp cận thực tế đạt 56,2% ở 203 cặp đôi thuộc nhóm thăm khám tại nhà, 50,0% ở 212 cặp đôi thuộc nhóm tự xét nghiệm và chỉ 13,6% ở 191 cặp đôi thuộc nhóm chăm sóc chuẩn.
Trong số 375 phụ nữ nhiễm HIV ban đầu có ít nhất một lần định lượng tải lượng virus sau đó, tỷ lệ đạt ức chế virus ở nhóm thăm khám tại nhà cao hơn rõ rệt (99,2% ở 118 phụ nữ) so với nhóm chăm sóc chuẩn (90,5% ở 126 phụ nữ), và có xu hướng cao hơn không có ý nghĩa thống kê ở nhóm tự xét nghiệm (94,7% ở 131 phụ nữ).
Việc tỷ lệ ức chế tải lượng virus của người mẹ chỉ đạt mức cải thiện có ý nghĩa thống kê ở nhóm thăm khám tại nhà “reminds us that testing alone is insufficient to have clinical impacts,” (tạm dịch: “nhắc nhở chúng ta rằng chỉ riêng xét nghiệm là chưa đủ để tạo ra tác động lâm sàng”), TS. Nora Rosenberg (Đại học North Carolina tại Chapel Hill, Hoa Kỳ) và các đồng tác giả bình luận trong bài viết đi kèm. “The provision of structured, repeated engagement delivered by a trained lay counsellor was essential for boosting viral suppression among women living with HIV.” (tạm dịch: “Sự tương tác có cấu trúc, lặp lại nhiều lần do nhân viên tư vấn cộng đồng được đào tạo thực hiện chính là yếu tố cốt lõi giúp tối ưu hóa ức chế virus ở phụ nữ nhiễm HIV”).
Không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm về tỷ lệ sử dụng dịch vụ sức khỏe bà mẹ và trẻ em đơn lẻ tại thời điểm 3 tháng sau sinh (54–60%), cũng như tỷ lệ trẻ sống không nhiễm HIV ở thời điểm 18 tháng sau sinh (92–98%).
Nhóm nghiên cứu của Turan kết luận: “The delivery of couple home visits to strengthen relationship skills and educate both partners on HIV prevention and family health is a promising strategy for increased couples HIV testing and maternal viral suppression for pregnant couples.” (tạm dịch: “Triển khai thăm khám cặp đôi tại nhà nhằm nâng cao kỹ năng quan hệ và giáo dục cho cả hai về dự phòng HIV cũng như sức khỏe gia đình là một chiến lược đầy hứa hẹn để thúc đẩy xét nghiệm HIV theo cặp và cải thiện ức chế virus cho thai phụ”).
TS. Rosenberg cùng cộng sự đề xuất: “Moving forward, the future might lie not in choosing between HIV self-testing and structured couple counselling, but rather in combining them. A hybrid approach that integrates HIV self-test kits with lighter-touch couple-focused digital support—including video-based counselling tools, AI-assisted adherence support, and mobile engagement and follow-up—could preserve the clinical benefits of repeated couple contact, while reducing demands on overstretched health systems.” (tạm dịch: “Hướng về phía trước, tương lai có thể không nằm ở việc chọn lựa giữa tự xét nghiệm HIV hay tư vấn cặp đôi bài bản, mà là sự phối hợp của cả hai. Một mô hình tích hợp kết hợp bộ tự xét nghiệm với các hỗ trợ kỹ thuật số tinh gọn hướng đến cặp đôi—như công cụ tư vấn qua video, hỗ trợ tuân thủ điều trị bằng AI, và kết nối, theo dõi qua điện thoại—có thể duy trì các lợi ích lâm sàng của việc tương tác lặp lại với cặp đôi, đồng thời giảm tải gánh nặng cho các hệ thống y tế vốn đang quá tải”).