“These temporal patterns support postpartum care models that extend well beyond the immediate postpartum interval—integrating blood pressure, lipid, and weight surveillance alongside guideline-concordant glucose screening” (tạm dịch: “Đặc điểm diễn tiến theo thời gian này ủng hộ việc thiết lập các mô hình chăm sóc hậu sản kéo dài vượt xa giai đoạn chu sinh thông thường—kết hợp theo dõi huyết áp, lipid máu và cân nặng song hành cùng tầm soát đường huyết theo đúng hướng dẫn lâm sàng”) – TS. Lili Liu (Trung tâm Y tế Đại học Stanford, Palo Alto, California) cùng các cộng sự nhấn mạnh trên tạp chí JAMA Network Open.
Nhóm nghiên cứu nhận định rằng, dù mối liên hệ giữa đái tháo đường thai kỳ và các biến cố đơn lẻ như đái tháo đường típ 2 hay bệnh tim mạch (CVD) “are well established, less is known about the comparative timing and magnitude of multiple CKM components after gestational diabetes” (tạm dịch: “đã được xác lập rõ ràng, song thời điểm khởi phát cũng như mức độ ảnh hưởng tương đối của các thành tố khác nhau trong hội chứng CKM sau thai kỳ vẫn còn là khoảng trống dữ liệu”).
Nhóm tác giả đã khai thác cơ sở dữ liệu bảo hiểm thương mại Merative MarketScan để xác định các đối tượng tham gia bảo hiểm liên tục từ 90 ngày trước khi mang thai đến tối thiểu 1 năm sau sinh, trong giai đoạn từ tháng 4/2007 đến tháng 10/2023. Tiêu chuẩn lựa chọn bao gồm phụ nữ trong độ tuổi 12–55, mang đơn thai từ 20 tuần trở lên và không có tiền sử béo phì, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, tiền đái tháo đường, đái tháo đường, hội chứng chuyển hóa, bệnh tim mạch hoặc bệnh thận mạn tính.
Đái tháo đường thai kỳ được xác định dựa trên mã ICD-9 và ICD-10 ghi nhận trong khung thời gian thai kỳ 301 ngày tính quanh ngày sinh, đồng thời yêu cầu có ít nhất 1 hồ sơ thanh toán điều trị nội trú hoặc từ 2 hồ sơ ngoại trú trở lên.
Trong số 1.153.998 phụ nữ đủ điều kiện tham gia (tuổi trung bình 28,0), có 8,2% trường hợp được chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ. Nhóm sản phụ có đái tháo đường thai kỳ nhìn chung lớn tuổi hơn nhóm không mắc (tuổi trung bình 29,6 so với 27,8), tỷ lệ dưới 19 tuổi thấp hơn (3,3% so với 9,1%) nhưng tỷ lệ trên 35 tuổi lại cao hơn đáng kể (17,1% so với 11,5%).
Qua thời gian theo dõi trung bình 3,2 năm, tỷ lệ mới mắc thô trên 1.000 người-năm ở nhóm từng có đái tháo đường thai kỳ cao hơn rõ rệt so với nhóm chứng ở hàng loạt bệnh lý: đái tháo đường típ 2 (9,9 so với 1,0), tiền đái tháo đường (12,9 so với 2,5), rối loạn lipid máu (19,9 so với 10,1), tăng huyết áp (13,9 so với 8,1) và béo phì (26,3 so với 15,2).
Phân tích mô hình hồi quy đa biến Cox ghi nhận đái tháo đường thai kỳ có mối liên quan độc lập và có ý nghĩa thống kê với đái tháo đường típ 2 (tỷ số nguy cơ hiệu chỉnh [aHR] = 10,02), tiền đái tháo đường (aHR = 5,32), hội chứng chuyển hóa (aHR = 2,72), rối loạn lipid máu (aHR = 2,00), tăng huyết áp (aHR = 1,76), béo phì (aHR = 1,75) và biến cố chuyển hóa gộp (aHR = 2,15).
Nguy cơ tim mạch gộp cũng gia tăng ở nhóm từng có đái tháo đường thai kỳ (aHR = 1,28), đặc biệt là bệnh động mạch ngoại biên (aHR = 1,80) và suy tim (aHR = 1,41); tuy nhiên, nghiên cứu chưa phát hiện mối liên quan có ý nghĩa với bệnh thận mạn tính.
Sau khi hiệu chỉnh thêm các yếu tố về mức độ sử dụng dịch vụ y tế cũng như các biến số chưa đo lường như chỉ số khối cơ thể (BMI) hay mức độ béo phì, tỷ số nguy cơ (HR) có giảm nhẹ nhưng vẫn duy trì ở mức tăng có ý nghĩa đối với đái tháo đường típ 2, tiền đái tháo đường, hội chứng chuyển hóa, rối loạn lipid máu, tăng huyết áp và béo phì.
Đáng chú ý, mối liên hệ giữa đái tháo đường thai kỳ và nguy cơ tiến triển thành đái tháo đường típ 2 tăng mạnh theo thời gian theo dõi: tỷ lệ mới mắc tăng từ 8,19/1.000 người-năm trong 1–2 năm đầu sau sinh lên đến 21,91/1.000 người-năm ở năm thứ 12–13.
Các tác giả kết luận: “Future studies incorporating measured BMI, more diverse populations, and longer follow-up are needed to refine these estimates, explore [chronic kidney disease] risk, and evaluate integrated postpartum prevention strategies” (tạm dịch: “Các nghiên cứu trong tương lai cần thu thập dữ liệu đo lường BMI thực tế, mở rộng trên nhiều quần thể đa dạng hơn với thời gian theo dõi dài hơn để hoàn thiện các ước tính nguy cơ này, đồng thời làm sáng tỏ nguy cơ [bệnh thận mạn] và đánh giá hiệu quả của các chiến lược dự phòng tích hợp sau sinh”).