Thời gian chờ thụ thai (TTP) – tính từ thời điểm bắt đầu cố gắng thụ thai cho đến ngày đầu tiên của kỳ kinh nguyệt cuối cùng trước khi mang thai – đạt giá trị trung vị là 91 ngày ở 215 phụ nữ viêm khớp dạng thấp tham gia nghiên cứu PreCARA (2011–2023). Trong nghiên cứu này, các bác sĩ đã áp dụng chiến lược điều trị nhắm đích, đồng thời hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc chống viêm không steroid (NSAID) và prednisone liều cao.
Để đối chứng, thời gian TTP trung vị lên tới 251 ngày ở đoàn hệ lịch sử gồm 245 phụ nữ viêm khớp dạng thấp được chăm sóc theo tiêu chuẩn lâm sàng tối ưu thời điểm đó thuộc nghiên cứu PARA (2002–2010).
Đáng chú ý, tỷ lệ thụ thai thành công trong vòng 1 năm ở nhóm áp dụng chiến lược điều trị nhắm đích đạt tới 77%, vượt trội có ý nghĩa thống kê so với mức 58% ở nhóm chăm sóc tiêu chuẩn trước đây.
Trên tạp chí The Lancet Rheumatology, tác giả Cornelia Quaak và cộng sự từ Trung tâm Y tế Đại học Erasmus (Rotterdam, Hà Lan) nhận định: “Women with rheumatoid arthritis frequently have fertility problems” (tạm dịch: “Phụ nữ viêm khớp dạng thấp thường gặp các trở ngại về khả năng sinh sản”) và việc kéo dài TTP chính là “a major contributor to subfertility” (tạm dịch: “yếu tố then chốt dẫn đến suy giảm khả năng thụ thai”).
Sự khác biệt giữa các chiến lược điều trị
Nhóm nghiên cứu đã phân tích dữ liệu cá thể bệnh nhân từ PreCARA và PARA – hai nghiên cứu được thực hiện tại cùng một viện với sự tương đồng tuyệt đối về tiêu chí định nghĩa, quy trình can thiệp và các biến số theo dõi. Độ tuổi trung bình khi thu nhận bệnh nhân lần lượt là 32,4 tuổi và 31,8 tuổi; tỷ lệ phụ nữ mang thai lần đầu tương ứng là 59% và 58%.
Khác biệt mấu chốt giữa hai đoàn hệ nằm ở chiến lược can thiệp trước thai kỳ. Trong nghiên cứu PreCARA, mục tiêu điều trị hướng đến lui bệnh trên lâm sàng, xác định bằng thang điểm hoạt lực bệnh trên 28 khớp (DAS28) ≤ 2,6 (tính toán dựa trên số khớp sưng, khớp đau và CRP). Đồng thời, phác đồ hạn chế tối đa NSAID và prednisone liều ≥ 7,5 mg/ngày, ưu tiên các thuốc an toàn cho thai kỳ. Bên cạnh đó, bệnh nhân được tư vấn tiền sản bài bản theo cấu trúc chuẩn và được bác sĩ sản phụ khoa lượng giá chức năng sinh sản. Trái lại, bệnh nhân trong nghiên cứu PARA chủ yếu chỉ tiếp nhận điều trị bảo tồn hoặc không dùng thuốc.
Nhìn chung, có tới 97% phụ nữ ở nhóm PreCARA được điều trị nội khoa giai đoạn tiền thụ thai, so với tỷ lệ chỉ 36% ở nhóm PARA. Nhóm PreCARA có tỷ lệ sử dụng NSAID (13% so với 36%) và prednisone liều cao (11% so với 17%) thấp hơn hẳn, trong khi tỷ lệ điều trị bằng các thuốc chống thấp khớp làm thay đổi diễn tiến bệnh (DMARDs) lại cao vượt trội: sulfasalazine (69% so với 32%), hydroxychloroquine (65% so với 6%) và thuốc ức chế yếu tố hoại tử u (anti-TNF) (53% so với 4%).
Nhóm tác giả báo cáo rằng trong nghiên cứu PreCARA, “most of the women with rheumatoid arthritis who were in clinical remission became pregnant within 1 year and the proportion was similar to the general population” (tạm dịch: “phần lớn phụ nữ viêm khớp dạng thấp đạt mức lui bệnh trên lâm sàng đều mang thai trong vòng 1 năm, với tỷ lệ tương đương dân số chung”). Có 61% phụ nữ đạt lui bệnh trước hoặc trong tam cá nguyệt thứ nhất, với TTP trung vị chỉ 65 ngày. Ngược lại, ở 39% trường hợp chưa đạt lui bệnh lâm sàng, TTP trung vị kéo dài đến 150 ngày.
Các nhà nghiên cứu khẳng định phát hiện này cho thấy chiến lược điều trị nhắm đích “is associated with better fertility outcomes” (tạm dịch: “có mối liên quan mật thiết với sự cải thiện kết cục sinh sản”) và kết quả này “hold relevance not only for patients with rheumatoid arthritis but also for individuals with other inflammatory autoimmune conditions because inflammation in these conditions could also interfere with fertility” (tạm dịch: “không chỉ mang ý nghĩa thực tiễn đối với người bệnh viêm khớp dạng thấp mà còn giá trị với những bệnh nhân mắc các bệnh tự miễn viêm khác, bởi phản ứng viêm hệ thống trong các bệnh lý này cũng có thể cản trở khả năng sinh sản”).
Các yếu tố tác động tiềm ẩn
Trong bài bình luận đi kèm, chuyên gia Bonnie Bermas (Trung tâm Y tế Southwestern thuộc Đại học Texas, Dallas, Hoa Kỳ) nhận định tập dữ liệu “were drawn from similar populations, supporting internal validity” (tạm dịch: “được thu thập từ các quần thể bệnh nhân đồng nhất, bảo đảm giá trị nội tại của nghiên cứu”). Dẫu vậy, bà chỉ ra rằng việc sử dụng đoàn hệ lịch sử không ngẫu nhiên hóa để làm đối chứng là một hạn chế về mặt phương pháp học.
Bermas cũng lưu ý thêm: “the PreCARA cohort probably had less severe disease at baseline” (tạm dịch: “đoàn hệ PreCARA nhiều khả năng có mức độ hoạt lực bệnh nền nhẹ hơn”), thể hiện qua thời gian mắc bệnh dài hơn đoàn hệ PARA (6,8 so với 4,1 năm), đi kèm tỷ lệ bào mòn khớp thấp hơn (32% so với 50%) và ít phụ thuộc vào NSAID hơn.
Chuyên gia này cũng nhấn mạnh những yếu tố độc lập ngoài tầm kiểm soát hoạt lực bệnh có thể đã góp phần tạo nên kết quả khả quan này, nổi bật là quy trình tư vấn tiền sản chuyên sâu vốn chỉ áp dụng cho nhóm PreCARA. Đây “represents an important unmeasured confounder” (tạm dịch: “đại diện cho một yếu tố nhiễu quan trọng chưa được lượng hóa”) cần tiếp tục được đánh giá trong các thử nghiệm tương lai.
Bermas kết luận: “Nonetheless, this study provides compelling evidence that proactive, treat-to-target disease management combined with specialised reproductive counselling can meaningfully improve reproductive outcomes in this population” (tạm dịch: “Dù vậy, nghiên cứu này đã cung cấp bằng chứng thuyết phục cho thấy việc chủ động quản lý bệnh theo chiến lược nhắm đích kết hợp với tư vấn sinh sản chuyên biệt có thể cải thiện thực chất các kết cục sản khoa trên quần thể bệnh nhân này”).