Bác sĩ Ayoub Mitha (Viện Karolinska, Stockholm, Thụy Điển) cùng các cộng sự báo cáo trên tạp chí JAMA Network Open: “[A] substantial proportion of the observed mortality reduction was mediated via reduced NEC incidence” (tạm dịch: “Một tỷ lệ đáng kể mức giảm tử vong ghi nhận được bắt nguồn từ việc kéo giảm tỷ lệ mắc viêm ruột hoại tử”).
Nghiên cứu phân tích dữ liệu từ Sổ bộ Chất lượng Sơ sinh Thụy Điển giai đoạn 2017–2024 trên 4.695 trẻ sơ sinh (54% là bé trai) sinh ở tuần thai từ 28 tuần 0 ngày đến 31 tuần 6 ngày (tuổi thai trung bình 30,2 tuần). Trong đó, 33,5% trẻ được bổ sung probiotic hàng ngày với liều 1 tỷ đơn vị hình thành khuẩn lạc (CFU) đông khô gồm Bifidobacterium infantis, Bifidobacterium lactis và Streptococcus thermophilus từ sau sinh đến khi đạt 34 tuần tuổi sau kinh chót.
Khoảng 66,5% trẻ còn lại sinh trong giai đoạn 2017–2019 không dùng probiotic. Đến năm 2020, Hội Sơ sinh Thụy Điển ban hành khuyến cáo toàn quốc về việc chỉ định probiotic cho trẻ sinh rất non, giúp tỷ lệ trẻ tiếp cận liệu pháp này trong năm đó đạt 16,9%. Giai đoạn 2021–2024, tỷ lệ bổ sung trung bình tăng lên 64,8%.
Nhóm nghiên cứu ghi nhận nhóm trẻ dùng probiotic có tỷ lệ gộp biến cố tử vong và/hoặc viêm ruột hoại tử (NEC, độ 2–3 theo phân loại Bell) thấp hơn rõ rệt so với nhóm chứng, lần lượt là 0,8% so với 3,4%. Đáng lưu ý, tiêu chí tử vong chỉ tính các ca diễn tiến sau 3 ngày tuổi đầu đời và loại trừ các trường hợp do bất thường bẩm sinh hoặc bất thường nhiễm sắc thể.
Sau khi hiệu chỉnh theo tuổi thai (tính theo ngày), điểm Z cân nặng lúc sinh, điểm Apgar 5 phút, việc điều trị bằng surfactant và năm sinh, nguy cơ tử vong và/hoặc viêm ruột hoại tử ở nhóm bổ sung probiotic giảm có ý nghĩa thống kê tới 72%.
Khi phân tích riêng từng tiêu chí, nguy cơ tử vong hiệu chỉnh ở nhóm dùng probiotic giảm 84% và nguy cơ mắc NEC giảm 75% so với nhóm không can thiệp. Tỷ lệ tử vong giữa hai nhóm lần lượt là 0,3% so với 1,4%, trong khi tỷ lệ mắc NEC là 0,6% so với 2,5%.
Đặc biệt, nguy cơ viêm ruột hoại tử cần can thiệp phẫu thuật (Bell độ 3) giảm tới 96% ở nhóm bổ sung probiotic, với tỷ lệ biến cố chỉ 0,1% so với 1,3% ở nhóm đối chứng.
Phân tích sâu hơn ước tính rằng 42,3% hiệu quả giảm tử vong của liệu pháp probiotic được gián tiếp mang lại thông qua việc giảm tỷ lệ mắc NEC.
Ngược lại, tỷ lệ gộp biến cố tử vong và/hoặc nhiễm khuẩn huyết khởi phát muộn (sau ngày tuổi thứ 3) có bằng chứng cấy máu dương tính không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm (3,4% so với 4,4%).
Dù không nằm trong mục tiêu đo lường ban đầu, nhóm tác giả đã khảo sát thêm tại các đơn vị hồi sức sơ sinh (NICU) ở Thụy Điển về biến chứng nhiễm khuẩn huyết xâm lấn liên quan đến chủng probiotic và không ghi nhận ca bệnh nào trong suốt giai đoạn nghiên cứu; theo các tác giả, “which is reassuring and supports the safety of this strategy” (tạm dịch: “đây là kết quả đáng an tâm và củng cố mức độ an toàn của chiến lược này”).
Mitha và cộng sự bình luận thêm rằng dù “ongoing vigilance remains warranted, our findings support a favorable benefit-risk profile for probiotic supplementation in very preterm infants, which could have a large population health benefit” (tạm dịch: “vẫn cần duy trì cảnh giác liên tục, các dữ liệu này ủng hộ tỷ lệ lợi ích – nguy cơ rất khả quan của việc bổ sung probiotic ở trẻ sinh rất non, có thể mang lại lợi ích lớn cho sức khỏe cộng đồng”).
Các tác giả kết luận rằng kết quả nghiên cứu “may help inform shared decision-making between clinicians and families” (tạm dịch: “có thể cung cấp cơ sở định hướng trong quá trình cùng ra quyết định giữa bác sĩ lâm sàng và gia đình trẻ”), song cũng nhấn mạnh dữ liệu này “should not be generalized to extremely preterm infants (<28 weeks’ gestation), a population with much higher baseline risks of adverse outcomes” (tạm dịch: “không nên ngoại suy sang nhóm trẻ sinh cực non [<28 tuần tuổi thai], một quần thể vốn có nguy cơ gặp các biến cố bất lợi nền cao hơn rất nhiều”).