TS. Leonide Saad (Công ty Dược phẩm Alkeus, Cambridge, Massachusetts, Hoa Kỳ) cùng các cộng sự nhận định trên tạp chí JAMA Ophthalmology: “These findings support gildeuretinol acetate as a potential therapeutic agent for Stargardt disease” (tạm dịch: “Những kết quả này củng cố tiềm năng của gildeuretinol acetate như một liệu pháp điều trị đầy hứa hẹn cho bệnh Stargardt”).
Nhóm tác giả giải thích rằng bệnh Stargardt – thể loạn dưỡng hoàng điểm di truyền phổ biến nhất – “believed to result from aberrant dimerization of vitamin A in the retina due to genetic variants in the ATP-binding cassette subfamily A member 4 (ABCA4) gene, leading to the formation of toxic vitamin A dimers (bisretinoids)” (tạm dịch: “được cho là bắt nguồn từ quá trình nhị hợp bất thường của vitamin A tại võng mạc do đột biến gen ABCA4 [ATP-binding cassette subfamily A member 4], dẫn tới tích tụ các chất nhị hợp vitamin A [bisretinoid] gây độc tế bào”).
Bệnh lý này gây suy giảm thị lực nặng nề và hiện vẫn chưa có bất kỳ phác đồ điều trị đặc hiệu nào được phê duyệt.
Về mặt dược lý, gildeuretinol acetate là phân tử vitamin A acetate được làm giàu deuterium tại vị trí carbon số 20 (C20D3–vitamin A acetate; Hãng Alkeus Pharmaceuticals), mang cơ chế ức chế chọn lọc khuynh hướng nhị hợp hóa của vitamin A tại võng mạc.
Nhóm nghiên cứu của Saad đã đánh giá hiệu quả điều trị trên 50 người bệnh từ 12 tuổi trở lên (độ tuổi trung bình là 44) mắc bệnh Stargardt có tổn thương giảm huỳnh quang tự phát ranh giới rõ, đồng thời mang ít nhất một biến thể gây bệnh hoặc có khả năng cao gây bệnh trên gen ABCA4.
Các đối tượng nghiên cứu được phân nhóm ngẫu nhiên sử dụng gildeuretinol acetate đường uống hàng ngày liều 14 mg (n=15), liều 24 mg (n=15), hoặc giả dược (n=10) trong vòng 24 tháng; hoặc nhóm bắt chéo dùng giả dược 12 tháng đầu rồi chuyển sang dùng gildeuretinol 14 mg trong 12 tháng tiếp theo (n=10). Nhóm bắt chéo được tính là nhóm chứng không điều trị trong năm thứ nhất và gộp vào nhóm can thiệp gildeuretinol acetate trong năm thứ hai. Ngoài ra, thử nghiệm còn đối chiếu với một đoàn hệ diễn tiến tự nhiên đời thực gồm 54 bệnh nhân không dùng thuốc hay giả dược.
Tại thời điểm ban đầu, diện tích căn bậc hai tổn thương trung bình ở các đối tượng có dữ liệu phân tích lần lượt là 2,3 mm ở nhóm gộp can thiệp gildeuretinol acetate (n=29 bệnh nhân, 49 mắt), 2,6 mm ở nhóm giả dược (n=10 bệnh nhân, 17 mắt), và 3,3 mm ở nhóm bắt chéo (n=7 bệnh nhân, 14 mắt); tương ứng với diện tích tổn thương teo trung bình là 6,4 mm2, 9,4 mm2 và 12,6 mm2.
Kết quả theo dõi từ tháng thứ 6 đến tháng thứ 24 cho thấy tốc độ lan rộng trung bình của các vùng tổn thương teo võng mạc đồng nhất và ranh giới rõ ở nhóm dùng gildeuretinol acetate thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm đối chứng gộp (gồm bệnh nhân dùng giả dược và đoàn hệ diễn tiến tự nhiên), với tỷ lệ 0,182 mm/năm so với 0,232 mm/năm. Mức chênh lệch trung bình 0,050 mm/năm này tương đương mức giảm tương đối 21,6% tốc độ tiến triển tổn thương teo võng mạc nhờ gildeuretinol acetate.
Khi phân tích thuần tập trên nhóm người bệnh phân ngẫu nhiên (loại trừ đoàn hệ diễn tiến tự nhiên), can thiệp gildeuretinol acetate giúp giảm tương đối 14,9% tốc độ tăng trưởng tổn thương so với giả dược, với tốc độ trung bình lần lượt là 0,206 mm/năm và 0,242 mm/năm.
Các nhà nghiên cứu lưu ý thêm rằng các biến số nền tại thời điểm ban đầu – bao gồm thị lực chỉnh kính tối đa (BCVA), tổn thương đa ổ, số lượng đột biến gen và giới tính – đều không ảnh hưởng đến đáp ứng điều trị. Đồng thời, BCVA nhìn chung duy trì ổn định trong suốt 24 tháng và không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm dùng gildeuretinol acetate và nhóm chứng.
Chính vì vậy, nhóm nghiên cứu kết luận: “[f]urther research is needed to determine the clinical relevance” (tạm dịch: “cần tiến hành thêm các nghiên cứu tiếp theo để xác định rõ ý nghĩa lâm sàng”) từ các kết quả bước đầu này.