“By standardizing terminology, advocating objective exclusion of active inflammation, and endorsing multimodal management consisting of dietary interventions, drugs, and BGBTs [brain–gut behavior therapies], these recommendations aim to improve outcomes while re-focusing treatment of quiescent IBD” (tạm dịch: “Thông qua việc chuẩn hóa thuật ngữ, khuyến nghị loại trừ khách quan tình trạng viêm đang hoạt động và đồng thuận áp dụng mô hình quản lý đa phương thức kết hợp điều chỉnh chế độ ăn, dược lý cùng các liệu pháp hành vi não – ruột [BGBT], khuyến cáo này hướng tới mục tiêu tối ưu hóa hiệu quả điều trị, đồng thời tái định hướng trọng tâm can thiệp ở bệnh nhân IBD giai đoạn lui bệnh”), TS. Lin Chang (Trường Y khoa David Geffen thuộc Đại học California, Los Angeles, Hoa Kỳ) cùng các cộng sự nhấn mạnh trên tạp chí Gastroenterology.

Nhóm chuyên gia cho biết ước tính có khoảng 20–30% bệnh nhân IBD dù đã đạt lui bệnh vẫn tiếp tục trải qua các triệu chứng đau bụng, rối loạn thói quen đại tiện và chướng bụng tương tự IBS. Những biểu hiện này dễ gây nhầm lẫn trên lâm sàng và tiềm ẩn nguy cơ leo thang điều trị IBD không cần thiết khi thiếu vắng định nghĩa chuẩn hóa cũng như chiến lược can thiệp dựa trên y học chứng cứ.

Để giải quyết bài toán này, hội đồng gồm 7 chuyên gia đầu ngành về IBD và 6 chuyên gia về IBS đã xây dựng bộ hướng dẫn thực hành mới dựa trên việc rà soát và đánh giá 105 khuyến nghị bao quát từ danh pháp, đánh giá lâm sàng đến các biện pháp can thiệp dinh dưỡng, dùng thuốc và liệu pháp BGBT.

Nomenclature

Hội đồng đồng thuận rằng thuật ngữ ưu tiên sử dụng cho cả người lớn và trẻ em là “IBD with IBS-like symptoms” (tạm dịch: “IBD kèm triệu chứng giống IBS”), bởi tên gọi này “provides a consistent and person-centered way to describe this clinical phenotype” (tạm dịch: “cung cấp một phương thức nhất quán và lấy người bệnh làm trung tâm để mô tả kiểu hình lâm sàng này”).

Các tác giả phân tích thêm: “It reduces ambiguity in communication, helps individuals understand that symptoms may persist despite remission, and may prevent unnecessary escalation of IBD-related therapy in the absence of objective evidence of active inflammation” (tạm dịch: “Thuật ngữ này giúp hạn chế mơ hồ trong trao đổi chuyên môn, giúp người bệnh hiểu rằng các triệu chứng vẫn có thể tồn tại dù bệnh đã lui, đồng thời ngăn ngừa việc leo thang điều trị IBD không cần thiết khi không có bằng chứng khách quan về tình trạng viêm đang hoạt động”).

Theo đó, IBD kèm triệu chứng giống IBS được định nghĩa là tình trạng đau hoặc khó chịu vùng bụng, rối loạn thói quen đại tiện (tiêu chảy, táo bón hoặc thể hỗn hợp) và/hoặc chướng bụng mà không thể giải thích bằng tổn thương viêm hoạt động hay bệnh lý cấu trúc; đồng thời nhấn mạnh rằng các triệu chứng này có thể xuất hiện trước hoặc sau thời điểm chẩn đoán IBD.

Clinical Evaluation

Nhóm tác giả của TS. Chang đưa ra các định hướng đánh giá lâm sàng chuyên biệt tùy theo bối cảnh thực hành điều trị thường quy hay nghiên cứu khoa học.

Trong thực hành lâm sàng hằng ngày, khuyến cáo ủng hộ việc áp dụng tiêu chuẩn chẩn đoán Rome, kết hợp song song các phương pháp thăm dò khách quan để loại trừ triệt để tình trạng viêm hoạt động hoặc tổn thương thực thể liên quan.

Đối với mục đích nghiên cứu, hội đồng đề xuất ứng dụng một phiên bản tinh chỉnh của tiêu chuẩn Rome kết hợp các ngưỡng lui bệnh định lượng trên nội soi, chỉ dấu sinh học, mô học và chẩn đoán hình ảnh; đồng thời nhấn mạnh nhu cầu cấp thiết trong việc phát triển một công cụ đo lường mức độ hoạt động bệnh chuyên biệt cho nhóm người bệnh IBD có triệu chứng giống IBS.

Treatment

Về nguyên tắc can thiệp, các tác giả khẳng định việc điều trị “should be directed toward the individual’s predominant symptom” (tạm dịch: “cần nhắm trực tiếp vào triệu chứng chiếm ưu thế của từng cá thể”). Cụ thể, các thuốc cầm tiêu chảy hoặc nhuận tràng có thể phù hợp để kiểm soát rối loạn nhu động ruột. Một số nhóm thuốc điều trị đích khác cũng có thể được chỉ định trên các đối tượng chọn lọc, bao gồm thuốc đối kháng thụ thể 5-hydroxytryptamine type 3 (5-HT3), thuốc chống trầm cảm ba vòng (TCA), thuốc ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin/norepinephrine (SSRI/SNRI), thuốc chống co thắt, tinh dầu bạc hà, thuốc kích thích bài tiết dịch ruột (secretagogues) và thuốc đồng vận 5-HT4.

Bên cạnh đó, đồng thuận cũng gợi ý việc áp dụng ngắn hạn chế độ ăn giảm các oligosaccharide, disaccharide, monosaccharide và polyol có thể lên men (FODMAP), bổ sung vỏ hạt mã đề (psyllium) khi không có hẹp ruột cơ học, cùng các thuốc điều hòa thần kinh (neuromodulators) có thể mang lại lợi ích rõ rệt trong việc cải thiện triệu chứng đau và bức tranh lâm sàng toàn diện.

Nhóm tác giả đặc biệt lưu ý: “BGBTs should be incorporated earlier in management, rather than as a last resort, as these approaches target catastrophizing, hypervigilance toward gastrointestinal sensations, and maladaptive avoidance behaviors that can amplify symptom intensity and functional disability” (tạm dịch: “Các liệu pháp hành vi não – ruột [BGBT] nên được lồng ghép sớm trong quy trình quản lý thay vì xem như lựa chọn cứu cánh cuối cùng, bởi các can thiệp này tác động trực tiếp vào xu hướng bi kịch hóa, tình trạng tăng cảnh giác quá mức với các cảm giác nội tạng và các hành vi né tránh kém thích nghi – những yếu tố vốn làm khuếch đại mức độ triệu chứng cũng như sự suy giảm chức năng sống”). Các can thiệp này bao gồm liệu pháp nhận thức hành vi tập trung vào đường tiêu hóa (GI-CBT), can thiệp giảm căng thẳng dựa trên chánh niệm và liệu pháp thôi miên định hướng đường ruột.

Bản khuyến cáo kết luận rằng: “[f]uture research should prioritize validated activity measures, mechanism-enriched trials, and implementation strategies that broaden access to effective, person-centered care” (tạm dịch: “Nghiên cứu trong tương lai cần ưu tiên chuẩn hóa các thước đo mức độ hoạt động bệnh, đẩy mạnh các thử nghiệm đào sâu cơ chế bệnh sinh, cũng như xây dựng chiến lược triển khai thực tiễn nhằm mở rộng khả năng tiếp cận mô hình chăm sóc hiệu quả, lấy người bệnh làm trung tâm”).