“These combinations represent additional options for early-line treatment of relapsed or refractory multiple myeloma” (tạm dịch: “Các phác đồ phối hợp này mở ra thêm những lựa chọn điều trị từ các bước sớm cho bệnh nhân đa u tủy xương tái phát hoặc kháng trị”), các nghiên cứu viên nhận định.

Kết quả từ thử nghiệm lâm sàng pha 3 này được công bố trên tạp chí The New England Journal of Medicine, đồng thời được GS. Peter Voorhees (Đại học Wake Forest, Charlotte, North Carolina, Hoa Kỳ) báo cáo tại Đại hội Hiệp hội Huyết học Châu Âu (EHA) 2026 diễn ra ở Stockholm, Thụy Điển.

Theo nhóm nghiên cứu, talquetamab là một kháng thể đặc hiệu kép có cơ chế tác động chọn lọc lên thụ thể GPRC5D trên tế bào u tủy mà không ảnh hưởng đến dòng tế bào B, đồng thời gắn với CD3 trên tế bào T; trong khi đó, daratumumab giúp suy giảm tế bào T điều hòa và gia tăng hoạt tính độc tế bào của lympho T.

Tiếp nối những tín hiệu khả quan của talquetamab trong nghiên cứu pha 1–2 MonumenTAL-1 trên quần thể bệnh nhân đa u tủy xương tái phát/kháng trị (R/R MM) đã thất bại với bốn phác đồ trước đó, thử nghiệm này tiến hành so sánh hai phác đồ Tal-D và Tal-DP với phác đồ chuẩn daratumumab kết hợp pomalidomide và dexamethasone (DPd) ở nhóm điều trị từ bước hai trở đi.

Dân số nghiên cứu có độ tuổi trung vị là 64 tuổi, trong đó nam giới chiếm 57%, 65% là người da trắng và thời gian trung vị từ khi chẩn đoán xác định là 4 năm. Các bệnh nhân đều ghi nhận bệnh tái phát hoặc kháng trị sau ít nhất một phác đồ trước đó (trung vị là hai phác đồ), bao gồm lenalidomide và các thuốc ức chế proteasome.

Sau thời gian theo dõi trung vị 24,6 tháng, tỷ lệ ngừng điều trị lần lượt là 30,3% ở nhóm Tal-D (287 bệnh nhân), 29,7% ở nhóm Tal-DP (287 bệnh nhân) và 52,7% ở nhóm DPd (290 bệnh nhân). Thời gian điều trị trung vị tương ứng đạt 21,5; 21,9 và 18,9 tháng; nguyên nhân ngừng điều trị chủ yếu do bệnh tiến triển hoặc xuất hiện biến cố bất lợi (AE).

Phân tích giữa kỳ theo đề cương cho thấy cả hai nhánh Tal-D và Tal-DP đều mang lại lợi ích vượt trội về tiêu chí chính là thời gian sống còn không tiến triển (PFS) so với nhánh DPd, với tỷ lệ duy trì PFS ước tính tại thời điểm 24 tháng lần lượt là 77,6% và 81,3% so với 51,2%. Tỷ số nguy cơ (HR) đối với tiến triển bệnh hoặc tử vong tương ứng đạt 0,33 và 0,28.

Nhóm nghiên cứu của Voorhees cũng ghi nhận ưu thế vượt trội của Tal-D và Tal-DP so với DPd về tỷ lệ đáp ứng khách quan (88,5% và 88,2% so với 77,6%), tỷ lệ đạt đáp ứng hoàn toàn hoặc đáp ứng hoàn toàn nghiêm ngặt (69,0% và 71,1% so với 34,5%), cũng như tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn có bệnh tồn lưu tối thiểu (MRD) âm tính ở ngưỡng 10-5 (46,3% và 52,3% so với 15,9%).

Lợi ích này đi kèm với sự cải thiện về thời gian sống còn toàn bộ (OS) tại mốc 24 tháng, đạt 87,9% ở nhánh Tal-D và 89,2% ở nhánh Tal-DP, vượt trội hơn mức 79,1% của nhánh DPd; tương ứng với HR tử vong lần lượt là 0,51 và 0,47.

Tuy nhiên, các tác giả lưu ý rằng “[t]he P values for Tal-DP and Tal-D did not cross the prespecified stopping boundaries for superiority, given the nominal alpha level allocated for each comparison at the interim analysis (0.0001)” (tạm dịch: “Giá trị P của hai nhánh Tal-DP và Tal-D chưa vượt qua ngưỡng dừng được định trước để khẳng định tính vượt trội, căn cứ theo mức ý nghĩa alpha danh nghĩa phân bổ cho mỗi phép so sánh tại thời điểm phân tích giữa kỳ là 0,0001”).

Về tính an toàn, tỷ lệ xảy ra biến cố bất lợi dẫn đến ngừng thuốc ở nhánh Tal-D, Tal-DP và DPd tương đương nhau (lần lượt 8,0% và 10,5% so với 6,7%), tỷ lệ biến cố bất lợi nghiêm trọng lần lượt là 52,6% và 63,0% so với 53,7%, và tỷ lệ tử vong do biến cố bất lợi là 4,0% và 1,8% so với 4,6%.

Biến chứng nhiễm trùng xuất hiện ở phần lớn bệnh nhân tại cả ba nhóm, trong đó tỷ lệ nhiễm trùng độ 3–4 ghi nhận lần lượt là 29,2%, 37,7% và 42,4%, phổ biến nhất là viêm phổi. Tỷ lệ phát hiện ung thư nguyên phát thứ hai tương ứng là 3,6%, 7,6% và 4,2%.

Hội chứng giải phóng cytokine (CRS) ở mọi mức độ xảy ra trên 58,4% người bệnh dùng Tal-D và 67,8% người bệnh dùng Tal-DP; trong khi hội chứng nhiễm độc thần kinh liên quan tế bào hiệu ứng miễn dịch (ICANS) chỉ xuất hiện ở tỷ lệ thấp, lần lượt là 1,8% và 2,9%.

Đáng chú ý, các tác giả nhấn mạnh rằng ở những bệnh nhân tiếp nhận Tal-D hoặc Tal-DP: “GPRC5D-related adverse events were common but infrequently led to treatment discontinuation” (tạm dịch: “Các biến cố bất lợi liên quan đến đích GPRC5D tuy phổ biến nhưng hiếm khi dẫn tới ngừng điều trị”). Nhóm biến cố này bao gồm rối loạn vị giác mọi mức độ (74,8% và 72,8% so với 3,9% ở nhóm DPd), phản ứng da/phát ban (39,1% và 38,0% so với 15,2%), tổn thương móng (57,3% và 56,2% so với 0,4%) và sụt cân (38,3% và 45,7% so với 7,4%). Ngoài ra, tình trạng mất thăng bằng hoặc thất điều cũng được ghi nhận trên 12,4% bệnh nhân nhóm Tal-D và 14,5% bệnh nhân nhóm Tal-DP.

Đánh giá về hai phác đồ mới, nhóm tác giả bình luận: “Although the trial was not designed to formally compare Tal-DP with Tal-D, the addition of pomalidomide to talquetamab plus daratumumab therapy appeared to be associated with increases in progression-free survival, duration of response, and overall survival, as well as an increased risk of hematologic toxic effects and severe infections” (tạm dịch: “Mặc dù thử nghiệm không được thiết kế để so sánh đối đầu trực tiếp giữa Tal-DP và Tal-D, việc bổ sung pomalidomide vào phác đồ talquetamab kết hợp daratumumab dường như giúp kéo dài thêm thời gian sống còn không tiến triển, thời gian duy trì đáp ứng và sống còn toàn bộ, song cũng đi kèm với nguy cơ gia tăng độc tính huyết học và nhiễm trùng nặng”).

Do đó, các chuyên gia khuyến cáo: “Individual patient characteristics and treatment goals may be considered when selecting between Tal-D and Tal-DP” (tạm dịch: “Bác sĩ điều trị nên cân nhắc kỹ đặc điểm lâm sàng cụ thể của từng người bệnh cũng như mục tiêu điều trị khi đưa ra quyết định lựa chọn giữa phác đồ Tal-D hay Tal-DP”).