“The findings indicate that many neurological symptoms, including those that can affect quality of life and socioeconomic burden, were associated with EVD, warranting close neurological follow-up of EVD survivors” (tạm dịch: “Các kết quả cho thấy nhiều triệu chứng thần kinh, bao gồm cả những biểu hiện làm suy giảm chất lượng sống và gia tăng gánh nặng kinh tế – xã hội, đều có liên quan mật thiết đến EVD; điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải theo dõi sát sao chuyên khoa thần kinh ở những người sống sót sau nhiễm bệnh”), tác giả Bridgette Billioux (Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ, Bethesda, Maryland) cùng các cộng sự nhận định trên tạp chí JAMA Neurology.

Nhóm tác giả lý giải rằng, mặc dù các biến chứng thần kinh trong giai đoạn cấp của EVD đã được ghi nhận nhiều hơn kể từ đợt bùng phát tại Tây Phi năm 2014, bức tranh toàn diện về tác động của bệnh lên hệ thần kinh vẫn chưa được làm sáng tỏ đầy đủ. Thực trạng này một phần xuất phát từ năng lực đánh giá chuyên khoa thần kinh còn hạn chế tại các vùng sâu vùng xa—nơi dịch bệnh chủ yếu hoành hành.

Nhằm giải quyết khoảng trống này, các nhà nghiên cứu đã triển khai nhánh nghiên cứu Thần kinh học trong khuôn khổ Nghiên cứu Lịch sử Tự nhiên của Ebola (PREVAIL III). Nghiên cứu theo dõi dọc trên 148 người sống sót có kháng thể kháng Ebola dương tính (tuổi trung bình 35; 50% là nữ) và 81 người tiếp xúc gần có huyết thanh âm tính (tuổi trung bình 36; 51% là nữ); toàn bộ đối tượng tham gia đều chưa từng nhận điều trị đặc hiệu đối với Ebola.

Từ năm 2015 đến năm 2023, các đối tượng tham gia được thăm khám thần kinh định kỳ mỗi 6 tháng và hoàn thành các bộ câu hỏi đánh giá tại Trung tâm Y tế John F. Kennedy ở Monrovia, Liberia.

Gia tăng tỷ lệ mắc các triệu chứng thần kinh đa dạng ở người sống sót sau nhiễm Ebola

Theo báo cáo, tại thời điểm đánh giá ban đầu (gồm giai đoạn bệnh cấp tính và thời gian ngắn ngay sau đó), nhóm sống sót sau EVD có tỷ lệ xuất hiện nhiều triệu chứng thần kinh cao hơn rõ rệt so với nhóm chứng. Thường gặp nhất là đau đầu (66,2% so với 46,9%), suy giảm trí nhớ (56,1% so với 17,3%), các triệu chứng trầm cảm (49,3% so với 16,0%), giảm khả năng tập trung (43,2% so với 8,6%), đau mỏi cơ (35,8% so với 7,4%), giảm sút động lực (33,1% so với 4,9%), rối loạn chức năng tình dục (32,4% so với 3,7%) và rối loạn cảm giác (30,4% so với 13,6%).

Bên cạnh đó, nhóm người sống sót có điểm số rối loạn giấc ngủ trung bình cao hơn có ý nghĩa so với nhóm tiếp xúc gần, đồng thời ghi nhận nhiều triệu chứng kéo dài đáng chú ý khác như rối loạn thị giác, chóng mặt, lú lẫn, biến đổi trạng thái tâm thần (kể cả ảo giác), ù tai, cũng như những bất thường trong suy nghĩ và hành vi.

Nhóm nghiên cứu của Billioux còn ghi nhận tỷ lệ tổn thương dây thần kinh sọ, yếu cơ, rối loạn cảm giác và thất điều tiểu não cao hơn hẳn ở nhóm sống sót so với nhóm tiếp xúc. Hậu quả là điểm đánh giá thần kinh tổng quát (GNE) trung bình (3,7 so với 2,1 điểm, với mỗi dấu hiệu bất thường tính 1 điểm) và điểm đánh giá hệ thần kinh trung ương (CNS) trung bình (2,2 so với 0,7 điểm) ở nhóm sống sót đều cao hơn đáng kể.

Trái lại, các tác giả cho biết: “[r]eports of stroke-like symptoms, seizures, meningitis, and severe mental status alterations were rare” (tạm dịch: “[c]ác báo cáo về triệu chứng dạng đột quỵ, co giật, viêm màng não và rối loạn tri giác mức độ nặng là rất hiếm gặp”).

Trong suốt 7 năm theo dõi, chức năng thần kinh của đa số người sống sót sau EVD cho thấy sự cải thiện dần qua các đợt tái khám định kỳ 6 tháng một lần.

Một số di chứng thần kinh tồn tại dai dẳng ít nhất 7 năm

Dẫu vậy, tại đợt đánh giá thần kinh cuối cùng (bao gồm 78% người sống sót và 75% người tiếp xúc gần hoàn thành theo dõi), nhóm sống sót vẫn có nguy cơ cao hơn rõ rệt đối với một số rối loạn thần kinh so với nhóm chứng. Cụ thể bao gồm suy giảm trí nhớ (57,4% so với 26,2%), tính khí dễ cáu gắt (36,5% so với 14,8%) và kém tập trung (29,6% so với 9,8%). Mặc dù đau đầu, triệu chứng trầm cảm và mệt mỏi vẫn còn phổ biến, các dấu hiệu này không còn ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng.

Đáng lưu ý, các phân tích sâu hơn đã chỉ ra mối liên quan có ý nghĩa giữa nồng độ kháng thể kháng virus Ebola ban đầu với điểm GNE và điểm CNS: hiệu giá kháng thể ban đầu càng cao thì điểm số thần kinh càng xấu và gánh nặng triệu chứng tại thời điểm khởi điểm càng nặng nề.

Nhóm tác giả kết luận rằng các bằng chứng lâm sàng này cho thấy: “EVD should be recognized as a potentially neurotropic disease with long-lasting outcomes, highlighting critical need for therapeutic interventions protecting the nervous system” (tạm dịch: “cần nhìn nhận EVD là một bệnh lý có khả năng hướng thần kinh kèm theo những di chứng lâu dài, qua đó nhấn mạnh nhu cầu cấp thiết đối với các can thiệp điều trị nhằm bảo vệ hệ thần kinh”).