Nhóm nghiên cứu do Shuo Wang (Đại học Y Thủ đô, Bắc Kinh, Trung Quốc) đứng đầu nhận định: “AWE could indicate the pathological features and fragility of aneurysm wall, including inflammation infiltration and atherosclerosis,” (tạm dịch: “Hiện tượng ngấm thuốc thành túi phình có thể phản ánh đặc điểm mô bệnh học cũng như tính dễ tổn thương của thành mạch, bao gồm tình trạng thâm nhiễm viêm và xơ vữa động mạch”).

Các tác giả phân tích thêm: “The traditional scores, including PHASES and ELAPSS score, mainly pay attention to clinical features and aneurysm size and location, which lack assessment of pathological features and fragility of aneurysm wall,” (tạm dịch: “Những thang điểm kinh điển như PHASES hay ELAPSS chủ yếu tập trung vào các đặc điểm lâm sàng, kích thước và vị trí giải phẫu của túi phình mà thiếu đi việc đánh giá bản chất bệnh học cũng như độ mỏng manh của thành túi phình”).

Nhóm nghiên cứu đã phân tích dữ liệu của 1.351 bệnh nhân từ 3 nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu, đa trung tâm được triển khai từ năm 2017 đến năm 2024 tại 83 cơ sở y tế ở Trung Quốc, bao gồm: đoàn hệ Dự đoán vỡ phình mạch não ở người Trung Quốc, Dự án 100 giai đoạn I và Dự án 100 giai đoạn II.

Độ tuổi của người bệnh dao động từ 18 đến 75 tuổi (trung vị 56 tuổi), trong đó nữ giới chiếm 56%. Tất cả bệnh nhân đều có ít nhất một túi phình dạng túi chưa vỡ, không triệu chứng với kích thước từ 3 mm trở lên. Tại thời điểm ban đầu, người bệnh được chụp MRI khảo sát thành túi phình trên máy 3-Tesla có tiêm thuốc đối quang từ gadolinium kết hợp chụp cắt lớp vi tính mạch máu (CTA) trong vòng 14 ngày. Sau đó, bệnh nhân được theo dõi bằng CTA định kỳ mỗi 4–6 tháng trong 2 năm đầu, rồi chuyển sang chụp hằng năm cho đến mốc 4 năm, hoặc đến khi có chỉ định điều trị dự phòng, hay khi túi phình tiến triển to lên hoặc vỡ.

Wang và cộng sự đã đánh giá tổng cộng 1.416 túi phình với kích thước trung vị là 5,8 mm, trong đó phần lớn (69%) có đường kính dưới 7 mm. Gần một nửa số trường hợp ghi nhận có hiện tượng ngấm thuốc thành túi phình (AWE); cụ thể 27% ngấm thuốc khu trú (focal AWE) và 18% ngấm thuốc toàn bộ chu vi thành (circumferential AWE). 55% trường hợp còn lại không có hình ảnh ngấm thuốc.

Đến thời điểm theo dõi 4 năm, có 16,6% bệnh nhân ghi nhận túi phình mất ổn định do tăng kích thước hoặc vỡ. Tăng kích thước được định nghĩa là đường kính tăng ít nhất 1,0 mm ở một hướng hoặc tăng từ 0,5 mm trở lên ở ít nhất hai hướng, hoặc xuất hiện bờ không đều mới. Biến cố vỡ được xác định dựa trên triệu chứng lâm sàng của xuất huyết dưới nhện, có chẩn đoán xác định qua chụp CT sọ não hoặc chọc dò dịch não tủy có máu.

Bệnh nhân có hình ảnh ngấm thuốc toàn bộ chu vi thành túi phình ở thời điểm ban đầu có tỷ lệ mất ổn định cao nhất sau 4 năm, lên tới 36,8%, tiếp theo là nhóm ngấm thuốc khu trú với 17,2%. Ngược lại, ở nhóm không có AWE, tỷ lệ mất ổn định sau 4 năm chỉ là 11,4%.

Nhóm tác giả cho biết nguy cơ mất ổn định ở bệnh nhân có ngấm thuốc toàn bộ chu vi thành cao gấp gần 4 lần so với nhóm không ngấm thuốc (hazard ratio [HR] = 3,8). Mối liên quan có ý nghĩa thống kê này vẫn được duy trì sau khi đã hiệu chỉnh theo giới tính, kích thước, hình thái và vị trí túi phình (HR = 2,21). Đối với nhóm ngấm thuốc khu trú, nguy cơ mất ổn định cũng tăng có ý nghĩa so với nhóm không ngấm thuốc (HR = 1,52), nhưng mối liên quan này không còn ý nghĩa thống kê sau khi hiệu chỉnh các yếu tố gây nhiễu.

Các nhà nghiên cứu kết luận: “AWE could provide additional information to clinicians to evaluate the risk of aneurysm instability.” (tạm dịch: “Đặc điểm ngấm thuốc thành túi phình có thể cung cấp thêm thông tin giá trị giúp bác sĩ lâm sàng đánh giá nguy cơ mất ổn định của tổn thương”).

Đồng thời, nhóm tác giả lưu ý: “because MR angiography […] is commonly used for monitoring aneurysm growth, the vessel wall imaging sequence can be easily added to the protocol with an additional 8-minute scan time.” (tạm dịch: “do chụp cộng hưởng từ mạch máu […] vốn được sử dụng thường quy để theo dõi sự phát triển của túi phình, chuỗi xung khảo sát thành mạch hoàn toàn có thể tích hợp thuận tiện vào quy trình chụp sẵn có chỉ với khoảng 8 phút chụp bổ sung”).

Các tác giả cũng lưu ý rằng dù nghiên cứu chỉ thực hiện trên quần thể bệnh nhân Trung Quốc—nơi tỷ lệ hiện mắc túi phình mạch não chưa vỡ cao hơn gấp đôi so với tại Hoa Kỳ (7% so với 3%)—và chỉ khoảng 20% bệnh nhân có AWE tại thời điểm ban đầu, kết quả này vẫn gợi mở rằng: “MRI aneurysm wall imaging may be used for predicting the risk of aneurysm instability.” (tạm dịch: “Kỹ thuật chụp cộng hưởng từ thành túi phình có thể được ứng dụng để tiên lượng nguy cơ mất ổn định của túi phình mạch não”).