Các kết quả phân tích giữa kỳ lần đầu về hiệu quả và tính an toàn của thử nghiệm lâm sàng pha 3 này đã được công bố đồng thời tại Hội nghị Thường niên lần thứ 67 của Hiệp hội Huyết học Hoa Kỳ (ASH) tại Orlando, Florida và trên tạp chí The New England Journal of Medicine.

Báo cáo viên chính, GS. María-Victoria Mateos (Bệnh viện Đại học Salamanca, Tây Ban Nha) cùng các cộng sự nhận định: “With the advent of ciltacabtagene autoleucel and teclistamab–daratumumab offering immunotherapy-based options with plateauing survival curves, we may be entering a new era of resetting survival expectations in a cancer that has been historically described as incurable” (tạm dịch: “Sự ra đời của ciltacabtagene autoleucel và phác đồ teclistamab–daratumumab mang đến các lựa chọn liệu pháp miễn dịch với đường cong sống còn tiệm cận bình nguyên, mở ra một kỷ nguyên mới giúp tái định hình kỳ vọng sống còn đối với một bệnh lý ác tính vốn từ trước đến nay được xem là bất trị”).

Teclistamab phối hợp daratumumab cải thiện rõ rệt sống còn

Nghiên cứu được tiến hành trên 587 người bệnh (55% nam giới, độ tuổi trung vị là 64) từng trải qua từ 1 đến 3 phác đồ điều trị đa u tủy xương trước đó bao gồm thuốc ức chế proteasome và lenalidomide, đồng thời ghi nhận bệnh tiến triển trong hoặc sau phác đồ gần nhất.

Sau thời gian theo dõi trung vị 34,5 tháng, tiêu chí chính là tỷ lệ sống thêm không bệnh tiến triển (PFS) tại thời điểm 36 tháng đạt 83,4% ở nhóm 291 bệnh nhân được phân ngẫu nhiên dùng kháng thể đặc hiệu kép kháng CD3/BCMA teclistamab kết hợp với kháng thể đơn dòng kháng CD38 daratumumab.

Tỷ lệ này vượt trội hơn hẳn so với mức 29,7% ở 296 bệnh nhân điều trị bằng daratumumab–dexamethasone kết hợp pomalidomide hoặc bortezomib (DPd/DVd) theo lựa chọn của nghiên cứu viên. Tỷ số nguy cơ (hazard ratio – HR) đối với tiến triển bệnh hoặc tử vong là 0,17 nghiêng hẳn về nhánh TD; theo nhóm tác giả Mateos, lợi ích này được ghi nhận đồng nhất trên tất cả các phân nhóm lâm sàng đã được xác định trước.

Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu cũng báo cáo phác đồ TD mang lại tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn trở lên vượt bậc so với điều trị chuẩn (81,8% so với 32,1%), tỷ lệ đáp ứng khách quan toàn bộ cao hơn (89,0% so với 75,3%), cũng như tỷ lệ duy trì đáp ứng tại tháng thứ 36 vượt trội (88,5% so với 36,4%).

Đặc biệt, kỹ thuật giải trình tự gen thế hệ mới (NGS) cho thấy người bệnh dùng phác đồ TD đạt tỷ lệ âm tính với tồn lưu tối thiểu của bệnh (MRD ở ngưỡng 10-5) cao hơn có ý nghĩa so với nhóm dùng DPd/DVd, cụ thể là 58,4% so với 17,1%.

Cuối cùng, tỷ lệ sống còn toàn bộ (OS) tại thời điểm 36 tháng đạt 83,3% ở nhóm TD so với 65,0% ở nhóm DPd/DVd, tiếp tục ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Các tác giả lý giải: “The overall survival curves crossed at approximately 10 months of follow-up, primarily owing to early deaths from infection in the teclistamab–daratumumab group” (tạm dịch: “Các đường cong sống còn toàn bộ có hiện tượng giao cắt ở mốc khoảng 10 tháng theo dõi, nguyên nhân chủ yếu bắt nguồn từ các trường hợp tử vong sớm do biến chứng nhiễm trùng ở nhóm điều trị bằng teclistamab–daratumumab”).

Kiểm soát và giảm thiểu nguy cơ nhiễm trùng nhờ các phác đồ hỗ trợ

Nhìn chung, biến cố bất lợi (AE) độ 3 hoặc 4 xuất hiện với tỷ lệ tương đương giữa hai nhánh, ghi nhận 95,1% ở nhóm TD và 96,6% ở nhóm DPd/DVd. Biến cố mức độ nặng phổ biến nhất ở cả hai nhóm là giảm bạch cầu trung tính (75,6% so với 78,6%), kế tiếp là thiếu máu (20,5% so với 17,2%) và giảm tiểu cầu (19,4% so với 23,4%).

Các nghiên cứu viên nhận xét: “Infections of any grade were common in both groups” (tạm dịch: “Nhiễm trùng ở mọi mức độ đều thường gặp ở cả hai nhóm”), với tỷ lệ biến cố nhiễm trùng độ 3 hoặc 4 là 54,1% ở nhóm TD và 43,4% ở nhóm DPd/DVd. Biến cố nhiễm trùng gây tử vong xảy ra lần lượt ở 4,6% và 1,4% bệnh nhân. Tuy nhiên, các tác giả nhấn mạnh rằng 12 trong số 13 ca tử vong ở nhánh TD xảy ra trong vòng 6 tháng đầu điều trị và “before the implementation of reinforced protocol-specified immune globulin treatment” (tạm dịch: “trước khi quy trình bổ sung immunoglobulin tăng cường theo phác đồ được áp dụng”), cũng như trước thời điểm triển khai các hướng dẫn dự phòng nhiễm trùng trong đại dịch COVID-19.

Từ những quan sát trên, nhóm nghiên cứu kết luận: “The use of this combination was associated with a risk of adverse events that can be ameliorated with the use of established protocols” (tạm dịch: “Việc phối hợp hai thuốc này tuy đi kèm nguy cơ gặp các biến cố bất lợi, nhưng hoàn toàn có thể kiểm soát và giảm thiểu nhờ áp dụng các quy trình điều trị chuẩn mực đã được thiết lập”).