Kết quả nghiên cứu công bố trên tạp chí The Lancet Gastroenterology & Hepatology đã làm sáng tỏ gánh nặng tử vong sớm liên quan đến hành vi uống rượu say (binge drinking) ở những bệnh nhân mắc bệnh gan nhiễm mỡ liên quan rối loạn chuyển hóa kết hợp rượu (MetALD) hoặc bệnh gan do rượu (ALD), đặc biệt là nhóm đồng mắc đái tháo đường típ 2.
Nghiên cứu “highlights the need for routine screening and counselling on drinking patterns, not only total intake” (tạm dịch: “nhấn mạnh sự cần thiết phải sàng lọc và tư vấn thường quy về mô hình tiêu thụ rượu, chứ không chỉ đơn thuần đánh giá tổng lượng cồn nạp vào”), theo GS. Zobair Younossi (Hội đồng Toàn cầu về NASH/MASH và Bệnh lý Gan, Washington, Hoa Kỳ) cùng các cộng sự.
Các tác giả cảnh báo rằng việc xếp nhầm MetALD hoặc ALD thành bệnh gan nhiễm mỡ liên quan rối loạn chuyển hóa (MASLD) “due to underreported alcohol use might obscure the true contribution of alcohol to liver disease progression and liver disease burden” (tạm dịch: “do người bệnh khai báo thiếu lượng rượu tiêu thụ có thể làm che khuất vai trò thực sự của cồn đối với sự tiến triển và gánh nặng của bệnh gan”).
Nhóm nghiên cứu đã phân tích dữ liệu từ các cá thể từ 20 tuổi trở lên tham gia Khảo sát Kiểm tra Sức khỏe và Dinh dưỡng Quốc gia Hoa Kỳ (NHANES) giai đoạn 1988–2023 có đầy đủ thông tin về tình trạng thoái hóa mỡ gan và mức độ phơi nhiễm với rượu.
Bệnh gan nhiễm mỡ được xác định dựa trên siêu âm gan, chỉ số gan nhiễm mỡ Hoa Kỳ (US Fatty Liver Index) hoặc kỹ thuật đo độ đàn hồi thoáng qua có kiểm soát rung (VCTE/FibroScan).
Mức tiêu thụ cồn được trích xuất từ bộ câu hỏi NHANES và được hiệu chỉnh theo các sai số khai báo thiếu hoặc thừa bằng các hệ số từ một nghiên cứu thẩm định uy tín tại Hoa Kỳ.
Uống rượu say (binge drinking) được định nghĩa là tiêu thụ từ 5 đơn vị cồn trở lên trong vòng 2 giờ đối với nam, hoặc từ 4 đơn vị cồn trở lên trong vòng 2 giờ đối với nữ, xuất hiện ít nhất một lần.
Nhìn chung, có 41.100 đối tượng thỏa mãn tiêu chuẩn đưa vào phân tích bệnh gan nhiễm mỡ và 24.707 cá thể trong độ tuổi 20–75 được đưa vào phân tích tử vong dài hạn.
Kết quả cho thấy, từ giai đoạn 1988–1990 đến giai đoạn 2021–2023, tỷ lệ lưu hành MASLD tăng từ 12,69% lên 28,16%, MetALD tăng từ 1,62% lên 4,10%, và ALD tăng từ 2,28% lên 4,59%—cho thấy sự leo thang đáng kể ở cả ba phân nhóm bệnh lý này.
Nhóm tác giả nhận định: “Without alcohol adjustment, ALD prevalence was substantially underestimated” (tạm dịch: “Nếu không hiệu chỉnh lượng cồn khai báo, tỷ lệ lưu hành ALD đã bị ước tính thấp hơn thực tế rất nhiều”), khi chỉ ghi nhận ở mức 1,65% trong giai đoạn 2021–2023; điều tương tự cũng xảy ra với MetALD khi con số ước tính chỉ dừng ở mức 2,14%.
Các chu kỳ NHANES ghi nhận rằng những đối tượng có bệnh gan nhiễm mỡ thường lớn tuổi hơn, tỷ lệ nam giới cao hơn, kèm theo tỷ lệ béo phì, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu và đái tháo đường típ 2 vượt trội so với người không mắc. Đáng chú ý, phân nhóm ALD đặc trưng bởi tuổi đời trẻ hơn, nam giới chiếm ưu thế, kèm tỷ lệ hút thuốc lá và thói quen uống rượu say cao rõ rệt.
Sau thời gian theo dõi trung vị 17,4 năm (tương đương 410.293 người–năm), tỷ lệ tử vong sớm ở nhóm không uống rượu và không mắc bệnh gan nhiễm mỡ là 4,76 ca trên 1.000 người–năm sau khi hiệu chỉnh khai báo cồn. Tỷ lệ này tăng vọt ở nhóm MASLD (7,86 ca/1.000 người–năm; HR hiệu chỉnh = 1,39), MetALD (8,74 ca/1.000 người–năm; HR = 1,45) và ALD (14,91 ca/1.000 người–năm; HR = 2,21), “showing a stepwise increase in risk with increased alcohol burden” (tạm dịch: “cho thấy nguy cơ tăng tiến dần theo từng bước tỷ lệ thuận với gánh nặng phơi nhiễm rượu”).
Đái tháo đường típ 2 là yếu tố quy trách nhiệm cho 13,25% nguy cơ tử vong sớm ở bệnh nhân MASLD (PAF = 13,25%). Trong khi đó, thói quen uống rượu say là yếu tố đóng góp chủ đạo dẫn đến tử vong sớm ở cả phân nhóm MetALD (PAF = 20,98%) và ALD (PAF = 92,85%).
Sự kết hợp giữa đái tháo đường típ 2 và tăng huyết áp làm tăng vọt nguy cơ tử vong sớm ở bệnh nhân MASLD kiêng rượu (HR = 4,59 so với nhóm không mắc hai bệnh đồng mắc này). Tương tự, đái tháo đường típ 2 phối hợp cùng béo phì cũng đẩy HR tử vong ở bệnh nhân MASLD không uống rượu lên mức 3,21.
Đặc biệt ở bệnh nhân MetALD hoặc ALD, sự hiện diện đồng thời của đái tháo đường típ 2 và thói quen uống rượu say đẩy nguy cơ tử vong sớm lên mức báo động với HR lần lượt là 7,67 và 17,50. Tăng huyết áp đi kèm uống rượu say ở bệnh nhân ALD ghi nhận HR tử vong sớm là 14,18, trong khi béo phì kết hợp uống rượu say có HR đạt 10,42.
Trong bài viết xã luận đi kèm, GS. Helena Cortez-Pinto (Phòng khám Tiêu hóa Đại học, Đại học Y khoa Lisboa, Bồ Đào Nha) nhấn mạnh rằng lâm sàng cần khai thác cẩn trọng mô hình uống rượu, “taking care to avoid imparting stigma that might discourage accurate recall of the pattern and magnitude of alcohol consumption” (tạm dịch: “đồng thời thận trọng tránh tạo định kiến hay sự kỳ thị có thể khiến người bệnh e ngại, dẫn đến việc nhớ lại và khai báo sai lệch về mức độ cũng như mô hình tiêu thụ cồn”).
Bà cũng kêu gọi mở rộng ứng dụng các chất chỉ điểm sinh học phản ánh việc uống rượu trong thời gian gần, đồng thời khẳng định “strong need to identify risk factors such as the pattern of alcohol consumption and cardiometabolic risk factors, particularly type 2 diabetes, in the general population” (tạm dịch: “nhu cầu cấp thiết trong việc tầm soát các yếu tố nguy cơ như mô hình tiêu thụ rượu và các rối loạn tim mạch – chuyển hóa, đặc biệt là đái tháo đường típ 2, trong dân số chung”).
Sau cùng, Cortez-Pinto nhấn mạnh “urgent need” (tạm dịch: “nhu cầu cấp bách”) về các phác đồ dùng thuốc đặc hiệu điều trị MetALD và ALD, đặc biệt khi cơ chế nghiện thức ăn và nghiện rượu có thể “share common treatments” (tạm dịch: “chia sẻ chung các phương thức can thiệp điều trị”).