Nghiên cứu vừa được công bố trên tạp chí JAMA Network Open, đồng thời được báo cáo tại Hội nghị Mãn kinh Thế giới 2026 (World Congress on Menopause 2026) diễn ra ở Rio de Janeiro, Brazil.

TS. Punith Kempegowda (Đại học Birmingham, Edgbaston, Vương quốc Anh) cùng các cộng sự nhấn mạnh: “These findings could be used to inform counseling and long-term follow-up rather than to set an age criterion for surgery” (tạm dịch: “Những phát hiện này nên được ứng dụng để định hướng tư vấn và theo dõi dài hạn hơn là đặt ra một mốc giới hạn tuổi cứng nhắc cho phẫu thuật”).

Nhóm nghiên cứu lý giải rằng tình trạng “abrupt loss of ovarian hormones” (tạm dịch: “suy giảm đột ngột các nội tiết tố buồng trứng”) do mãn kinh sau can thiệp y khoa “is associated with adverse long-term health outcomes” (tạm dịch: “có liên quan đến nhiều biến cố sức khỏe bất lợi lâu dài”), điển hình là bệnh tim mạch, bệnh mạch vành, đột quỵ, hội chứng chuyển hóa và tử vong do mọi nguyên nhân.

Dù vậy, một số nghiên cứu trước đây lại không ghi nhận sự gia tăng nguy cơ tim mạch. Nhóm tác giả nhận định “important uncertainties remain” (tạm dịch: “vẫn còn nhiều điểm chưa thực sự rõ ràng”) do sự không đồng nhất về phương pháp nghiên cứu, thiếu dữ liệu đánh giá vai trò của liệu pháp hormone mãn kinh (MHT), cũng như việc “limited consideration of baseline cardiovascular risk” (tạm dịch: “chưa đánh giá đầy đủ nguy cơ tim mạch nền của đối tượng nghiên cứu”).

Chính vì vậy, các tác giả đã tiến hành tổng quan y văn nhằm thu thập các nghiên cứu quan sát và thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng (RCT) công bố từ tháng 01/2004 đến tháng 03/2026. Nghiên cứu so sánh tỷ lệ mắc bệnh tim mạch và tử vong ở nhóm phụ nữ trải qua mãn kinh do can thiệp y khoa trước độ tuổi mãn kinh tự nhiên với nhóm mãn kinh tự nhiên hoặc nhóm chứng tương đồng về độ tuổi.

Tổng cộng có 36 nghiên cứu trên 2.617.942 phụ nữ được đưa vào phân tích từ 14.409 hồ sơ sàng lọc ban đầu, bao gồm 12 nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu, 11 nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu, 10 nghiên cứu cắt ngang, 2 thử nghiệm RCT và 1 nghiên cứu bệnh – chứng. Chất lượng chung của các nghiên cứu dao động từ mức trung bình đến cao.

Về phân loại can thiệp: 19 nghiên cứu theo dõi phẫu thuật cắt buồng trứng – vòi trứng hai bên (BSO) kèm hoặc không kèm cắt tử cung (trong đó có 1 nghiên cứu gộp cả mãn kinh do hóa trị), 12 nghiên cứu khảo sát riêng can thiệp BSO, 2 nghiên cứu tập trung vào phẫu thuật cắt buồng trứng dự phòng liên quan đến đột biến BRCA1/2, và 2 nghiên cứu đánh giá suy buồng trứng sớm (POI) thứ phát sau điều trị ung thư.

Kết quả ghi nhận nhóm phụ nữ mãn kinh do can thiệp y khoa có độ tuổi trung bình cao hơn so với nhóm đối chứng (55,5 so với 45,6 tuổi), đồng thời chỉ số BMI cũng cao hơn (28,5 so với 24,1 kg/m2). Có 12 nghiên cứu không báo cáo thời gian theo dõi; ở các nghiên cứu còn lại, thời gian theo dõi dao động từ 4,8 năm đến 36,0 năm.

Biến cố gộp tim mạch ghi nhận từ 7 nghiên cứu cho thấy nguy cơ tăng có ý nghĩa thống kê ở nhóm mãn kinh do can thiệp y khoa, với tỷ số nguy cơ gộp (HR) là 1,25 so với nhóm đối chứng. Nguy cơ bệnh mạch vành (đánh giá qua 6 nghiên cứu) cũng tăng đáng kể với HR gộp là 1,48; tương tự nguy cơ đột quỵ (qua 4 nghiên cứu) có HR gộp là 1,22.

Trái lại, tử vong do nguyên nhân tim mạch (được phân tích trong 6 nghiên cứu) không cho thấy mức tăng có ý nghĩa ở nhóm mãn kinh do can thiệp (HR gộp = 1,03), trong khi tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân (đánh giá trong 9 nghiên cứu) tăng nhẹ nhưng có ý nghĩa lâm sàng với HR gộp là 1,08.

Tuy nhiên, khi phân tầng theo độ tuổi can thiệp gây mãn kinh so với nhóm không cắt buồng trứng, nhóm tác giả phát hiện nguy cơ tử vong do tim mạch và tử vong do mọi nguyên nhân tăng rõ rệt ở phụ nữ dưới 45 tuổi (HR gộp lần lượt là 1,20 và 1,15), nhưng mối liên quan này không xuất hiện ở nhóm trên 45 tuổi.

Các nhà nghiên cứu nhận định rằng việc “concentration of excess risk before age 45 years is biologically plausible: iatrogenic menopause at a younger age abruptly removes ovarian steroid support for vascular, metabolic, and inflammatory function before physiologic adaptation to declining ovarian function has occurred” (tạm dịch: “sự tập trung nguy cơ vượt trội ở nhóm dưới 45 tuổi là hoàn toàn hợp lý về mặt sinh học: việc mãn kinh do can thiệp y khoa ở độ tuổi trẻ đã đột ngột cắt đứt vai trò hỗ trợ của steroid buồng trứng đối với chức năng mạch máu, chuyển hóa và đáp ứng viêm trước khi cơ thể kịp thích nghi sinh lý với tình trạng suy giảm chức năng buồng trứng”).

Phân tích hồi quy meta post-hoc chỉ ra rằng: cứ mỗi 5 năm tuổi tăng thêm tại thời điểm mãn kinh do can thiệp, nguy cơ xuất hiện biến cố gộp bệnh tật và tử vong do tim mạch lại giảm có ý nghĩa thống kê (HR = 0,89), tuy nhiên xu hướng này không ghi nhận đối với kết cục tử vong chung và tử vong tim mạch đơn thuần.

Thực hành chỉ định liệu pháp hormone mãn kinh (MHT) có sự phân tán rất lớn giữa các nghiên cứu và thường gắn liền với độ tuổi của đối tượng, dẫn đến việc không thể tách rời để phân tích độc lập. Nhóm tác giả kết luận: “This review therefore cannot support any conclusion about MHT as a risk-mitigation strategy after iatrogenic menopause, and its role remains a priority evidence gap” (tạm dịch: “Tổng quan này do đó chưa thể đưa ra bất kỳ kết luận nào về việc sử dụng MHT như một chiến lược giảm thiểu nguy cơ sau mãn kinh do can thiệp y khoa, và vai trò thực sự của liệu pháp này vẫn là một khoảng trống bằng chứng cần ưu tiên nghiên cứu làm rõ”).