Báo cáo nghiên cứu này vừa được công bố tại Đại hội ESCMID Global 2026 diễn ra ở Munich, Đức, đồng thời được xuất bản song song trên tạp chí JAMA.

“These findings underscore the need for research to identify effective strategies for prevention, early detection, and cognitive rehabilitation among survivors of cerebral malaria and severe malarial anemia,” (tạm dịch: “Các kết quả này nhấn mạnh tính cấp thiết của việc nghiên cứu nhằm tìm ra các chiến lược hiệu quả trong dự phòng, tầm soát sớm và phục hồi chức năng nhận thức cho nhóm trẻ vượt qua sốt rét thể não và thiếu máu nặng do sốt rét,”) tác giả báo cáo – GS. Chandy John (Trường Y thuộc Đại học Indiana, Indianapolis, Hoa Kỳ) cùng các cộng sự cho biết.

Nhóm nghiên cứu đã theo dõi thành công 75% trong tổng số 1247 đối tượng từ hai nghiên cứu trước đó (tiến hành giai đoạn 2008–2018), toàn bộ đều dưới 18 tuổi tại thời điểm tái đánh giá. GS. John chia sẻ trước hội nghị rằng hơn một nửa số đối tượng (55,8%) là trẻ nam, phản ánh đúng đặc điểm dịch tễ của sốt rét trẻ em tại Uganda.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 184 trẻ từng mắc sốt rét thể não, 249 trẻ thiếu máu nặng do sốt rét, 239 trẻ mắc các thể sốt rét ác tính khác (sốt rét có suy hô hấp, co giật nhiều cơn hoặc suy kiệt nặng), cùng nhóm chứng gồm 217 trẻ khỏe mạnh trong cộng đồng.

Ghi nhận suy giảm khả năng nhận thức và năng lực tính toán

Trong giai đoạn 2020–2023, trung bình 8,4 năm sau đợt sốt rét ác tính, các trẻ tham gia nghiên cứu được đánh giá qua một bộ trắc nghiệm nhận thức toàn diện. Độ tuổi trung bình của trẻ tại thời điểm khảo sát là 11,1 tuổi.

Kết quả phân tích cho thấy trẻ từng mắc sốt rét thể não hoặc thiếu máu nặng do sốt rét có sự sụt giảm đáng kể về khả năng nhận thức chung trên Thang đánh giá Kaufman dành cho trẻ em (KABC), với mức chênh lệch điểm số z hiệu chỉnh lần lượt là –0,41 và –0,31 so với nhóm chứng cộng đồng.

Nghiên cứu không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về khả năng duy trì chú ý giữa ba nhóm theo chỉ số D prime của Trắc nghiệm biến thiên chú ý (TOVA), hay về khả năng đọc qua thang đánh giá WRAT-4. Tuy nhiên, cả hai bệnh cảnh sốt rét thể não và thiếu máu nặng do sốt rét đều liên quan rõ rệt đến điểm trắc nghiệm môn toán thấp hơn trên thang WRAT-4 so với nhóm chứng cộng đồng, với mức chênh lệch trung bình hiệu chỉnh lần lượt là –0,46 và –0,32.

Các tác giả nhấn mạnh, những yếu tố nguy cơ liên quan đến sốt rét từng gây tổn hại nhận thức trong đợt cấp tiếp tục dự báo kết cục bất lợi trong dài hạn. Cụ thể, tổn thương thận cấp, tăng acid uric máu và nồng độ angiopoietin-2 huyết tương – một dấu ấn sinh học phản ánh rối loạn chức năng nội mô – có mối tương quan nghịch rõ rệt với chức năng nhận thức chung. Tổn thương thận cấp còn liên quan có ý nghĩa với khả năng tập trung kém, cũng như kết quả học tập sa sút ở môn đọc và môn toán.

Không ghi nhận suy giảm ở các thể sốt rét ác tính khác

Ngược lại, ở nhóm trẻ mắc các thể sốt rét ác tính khác, các chỉ số về nhận thức và học tập không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng cộng đồng. Một bài xã luận đi kèm nhận định rằng phát hiện này gợi ý “the long-term cognitive impairment associated with cerebral malaria or severe malaria anemia is not simply related to severe illness or prolonged hospitalization” (tạm dịch: “tình trạng suy giảm nhận thức kéo dài liên quan đến sốt rét thể não hoặc thiếu máu nặng do sốt rét không đơn thuần bắt nguồn từ tình trạng bệnh cảnh nguy kịch hay thời gian nằm viện kéo dài”).

Hai tác giả Sesh Sundararaman và Audrey Odom John (Đại học Pennsylvania, Philadelphia, Hoa Kỳ) bình luận thêm: “Rather, there appears to be something distinct about the pathophysiology of cerebral malaria and severe malaria anemia that contributes to longer-term cognitive decline,” (tạm dịch: “Thay vào đó, dường như có một cơ chế sinh lý bệnh đặc thù ở sốt rét thể não và thiếu máu nặng do sốt rét dẫn đến sự thoái triển nhận thức dài hạn này,”) và chỉ ra rằng căn nguyên có thể xuất phát từ “vascular adherence and sequestration” (tạm dịch: “hiện tượng dính mạch và cô lập nội mạch”) của hồng cầu nhiễm ký sinh trùng.

So sánh phác đồ Quinine và Artemisinin

Nhóm nghiên cứu lưu ý rằng trong giai đoạn thực hiện hai nghiên cứu ban đầu, phác đồ điều trị sốt rét ác tính khuyến cáo của WHO đã chuyển đổi từ quinine sang artemisinin đường tiêm. Tuy nhiên, phân tích dữ liệu cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa lâm sàng về kết cục nhận thức cũng như điểm số học tập giữa nhóm trẻ tiếp cận hai nhóm hoạt chất này.

Mở rộng thảo luận về hướng can thiệp trị liệu, GS. John và các cộng sự nhận định: “Postdischarge malaria chemoprevention decreases risk of postdischarge readmission and death in children with severe anemia in malaria endemic areas and is now standard in Uganda for children with a history of prior severe malaria.” (tạm dịch: “Hóa dự phòng sốt rét sau xuất viện giúp giảm đáng kể nguy cơ tái nhập viện và tử vong ở trẻ thiếu máu nặng tại các vùng dịch lưu hành, hiện đã trở thành phác đồ chuẩn tại Uganda cho trẻ có tiền sử sốt rét ác tính.”)

“It will be important to determine if implementation of postdischarge malaria chemoprevention helps to mitigate the observed declines in cognition and academic achievement among children that survive cerebral malaria or severe malarial anemia.” (tạm dịch: “Việc xác định xem liệu triển khai hóa dự phòng sau xuất viện có giúp hạn chế sự sụt giảm chức năng nhận thức và kết quả học tập ở nhóm trẻ phục hồi sau sốt rét thể não hay thiếu máu nặng do sốt rét hay không sẽ là một mục tiêu nghiên cứu mang tính quyết định.”)