Trong bài báo công bố trên tạp chí The New England Journal of Medicine, TS. Fiona Cresswell (Trường Vệ sinh & Y học Nhiệt đới London, Anh) cùng các cộng sự nhận định rằng các kết quả thu được “add to the growing body of evidence supporting long-acting therapy for persons who face challenges with adherence to treatment, engagement in care, or both and reinforce the inclusion of long-acting cabotegravir and rilpivirine in the WHO treatment guidelines” (tạm dịch: “củng cố thêm bằng chứng ủng hộ liệu pháp tác dụng kéo dài dành cho những người gặp rào cản về tuân thủ điều trị, duy trì theo dõi y tế hoặc cả hai, đồng thời ủng hộ việc đưa cabotegravir và rilpivirine tác dụng kéo dài vào hướng dẫn điều trị của WHO”).

Nghiên cứu IMPALA được tiến hành trên 540 người tham gia (độ tuổi trung vị: 40; 60% là nữ) nhiễm HIV-1 đã đạt mức ức chế vi-rút (tải lượng vi-rút < 200 bản sao/mL trong ít nhất 3 tháng trước khi phân ngẫu nhiên) tại Kenya, Nam Phi và Uganda. Tất cả bệnh nhân đều có tiền sử tuân thủ kém phác đồ uống gần đây (xác định bởi tải lượng vi-rút HIV > 1000 bản sao/mL trong 2 năm trước đó) hoặc gián đoạn theo dõi y tế (trễ lịch tái khám hoặc nhận thuốc trên 4 tuần trong 2 năm qua, hoặc không kết nối được với cơ sở chăm sóc y tế trong ít nhất 3 tháng sau khi chẩn đoán).

Bệnh nhân được phân ngẫu nhiên vào hai nhóm điều trị trong 48 tuần: nhóm một tiêm bắp cabotegravir 600 mg kết hợp rilpivirine 900 mg định kỳ mỗi 8 tuần (hai mũi đầu tiêm cách nhau 4 tuần); nhóm hai tiếp tục phác đồ uống hàng ngày gồm tenofovir 300 mg, lamivudine 300 mg và dolutegravir 50 mg.

Kết quả tại tuần thứ 48 ghi nhận liệu pháp tác dụng kéo dài đạt tính không thua kém (noninferiority) so với phác đồ uống hàng ngày trong duy trì ức chế vi-rút. Cụ thể, 91,0% trong số 268 bệnh nhân khởi đầu phác đồ tiêm tác dụng kéo dài duy trì được tải lượng vi-rút < 50 bản sao/mL, so với 89,2% ở nhóm 269 bệnh nhân duy trì thuốc uống.

Đáng chú ý, nhóm tác giả nhấn mạnh: “[n]oninferiority was shown without the use of baseline resistance testing and despite previous [nonnucleoside reverse-transcriptase inhibitor] exposure in locations with high background resistance” (tạm dịch: “Tính không thua kém đã được chứng minh mà không cần xét nghiệm kháng thuốc ban đầu, bất chấp tiền sử từng sử dụng thuốc ức chế men sao chép ngược non-nucleoside [NNRTI] tại các khu vực có tỷ lệ kháng thuốc nền cao”).

Bên cạnh đó, phối hợp tiêm cabotegravir và rilpivirine tác dụng kéo dài cũng chứng minh tính không thua kém phác đồ uống trong việc phòng ngừa thất bại về mặt vi-rút (được định nghĩa là hai lần xét nghiệm liên tiếp có tải lượng vi-rút ≥ 200 bản sao/mL). Tỷ lệ này xảy ra ở 1,9% bệnh nhân thuộc nhóm tác dụng kéo dài và 0% ở nhóm dùng thuốc uống.

Khi áp dụng định nghĩa thất bại vi-rút theo phân tích độ nhạy định trước (người bệnh có bất kỳ thời điểm nào đạt tải lượng vi-rút HIV ≥ 1000 bản sao/mL hoặc hai lần liên tiếp ≥ 200 bản sao/mL), tỷ lệ này lần lượt là 2,6% ở nhóm tiêm và 6,7% ở nhóm uống.

Các nhà nghiên cứu ghi nhận phản ứng tại vị trí tiêm không phổ biến ở mức độ nặng; chỉ có 37,3% người bệnh gặp phản ứng nhẹ đến trung bình (độ 1 hoặc độ 2). Đáng chú ý, đại đa số bệnh nhân ở nhóm dùng phác đồ tiêm tác dụng kéo dài (93,6%) chia sẻ rằng họ ưu thích phác đồ tiêm này hơn so với phác đồ uống trước đây.

Cresswell và các đồng nghiệp kết luận rằng “non-inferior efficacy of long-acting therapy may facilitate a person-centered approach to care that addresses the diverse needs of people with HIV” (tạm dịch: “hiệu quả không thua kém của liệu pháp tác dụng kéo dài có thể thúc đẩy tiếp cận chăm sóc lấy người bệnh làm trung tâm, giải quyết các nhu cầu đa dạng của người nhiễm HIV”).

Các tác giả nhấn mạnh thêm: “Equitable access to long-acting treatments for populations with the greatest clinical need should be prioritized” (tạm dịch: “Cần ưu tiên quyền tiếp cận bình đẳng các liệu pháp tác dụng kéo dài cho những nhóm quần thể có nhu cầu lâm sàng cấp thiết nhất”).