Báo cáo tại Hội nghị Thường niên & Triển lãm lần thứ 67 của Hiệp hội Huyết học Hoa Kỳ (ASH), TS. BS. Anoosha Habibi (Bệnh viện Đại học Henri-Mondor, Créteil, Pháp) cho biết trong gần 250 trường hợp thai kỳ có phơi nhiễm với hydroxyurea, không ghi nhận bất kỳ ca tử vong mẹ nào cũng như không xuất hiện dị tật bẩm sinh liên quan đến thuốc ở trẻ sơ sinh.

Chia sẻ trước các đồng nghiệp tại Orlando, Florida, Hoa Kỳ, bà nhận định: “These results are quite reassuring” (tạm dịch: “Những kết quả này mang lại sự an tâm đáng kể”), đồng thời nhấn mạnh: “Accidental or early exposure to hydroxyurea may not be as harmful as previously feared” (tạm dịch: “Việc phơi nhiễm hydroxyurea ngoài ý muốn hoặc ở giai đoạn sớm của thai kỳ dường như không gây nguy hại nghiêm trọng như những lo ngại trước đây”).

TS. Habibi giải thích thêm: “Although discontinuation of [hydroxyurea] is recommended when pregnancy is planned, [hydroxyurea] may be continued when transfusion is not an alternative, particularly in patients with a history of [delayed hemolytic transfusion reactions]” (tạm dịch: “Mặc dù các khuyến cáo hiện hành đều đề xuất ngưng hydroxyurea khi có kế hoạch mang thai, thuốc vẫn có thể được cân nhắc duy trì nếu không thể truyền máu thay thế, đặc biệt ở những bệnh nhân có tiền sử phản ứng tan máu muộn sau truyền máu”).

Bà phân tích rằng: “SCD patients planning pregnancy are generally advised to discontinue [hydroxyurea] 3 to 6 months before conception” (tạm dịch: “Bệnh nhân hồng cầu hình liềm có dự định mang thai thường được tư vấn ngừng hydroxyurea từ 3 đến 6 tháng trước khi thụ thai”), tuy nhiên: “evidence regarding [hydroxyurea]-associated teratogenicity in humans remains limited and inconclusive” (tạm dịch: “bằng chứng về nguy cơ sinh quái thai của hydroxyurea trên người vẫn còn rất hạn chế và chưa đủ để đưa ra kết luận chắc chắn”).

Hai nghiên cứu đoàn hệ không can thiệp ESCORT-HU (2009–2019) và ESCORT-HU Extension (2020–2025) được triển khai tại 77 trung tâm thuộc Pháp, Hy Lạp, Đức và Ý, nằm trong khuôn khổ cam kết hậu kiểm sau cấp phép với Cơ quan Quản lý Dược phẩm Châu Âu (EMA) đối với chỉ định của hydroxyurea trong bệnh hồng cầu hình liềm.

Trong tổng số 3.145 bệnh nhân tham gia nghiên cứu, có 1.733 nữ giới (chiếm 55%), và gần một nửa trong số đó (45%; n=785) thuộc độ tuổi sinh đẻ (18–45 tuổi). Đáng chú ý, đa số phụ nữ trong nhóm này không áp dụng biện pháp tránh thai dù đang điều trị bằng hydroxyurea.

Nghiên cứu đã ghi nhận 245 trường hợp mang thai trên 183 phụ nữ; trong đó có 207 thai kỳ phơi nhiễm với hydroxyurea và chỉ 36 thai kỳ đã ngừng thuốc trước khi thụ thai (2 trường hợp không rõ tình trạng phơi nhiễm). Độ tuổi mang thai trung bình là 30,7 tuổi và liều hydroxyurea trung bình được ghi nhận là 16 mg/kg/ngày.

Về thời điểm can thiệp thuốc, 61,8% thai phụ đã ngừng hydroxyurea trong tam cá nguyệt thứ nhất và 6,5% ngừng vào tam cá nguyệt thứ hai. Có 2,0% trường hợp bắt đầu dùng thuốc từ tam cá nguyệt thứ hai, và 9,3% duy trì điều trị liên tục trong suốt thai kỳ.

Trong toàn bộ quá trình theo dõi, chỉ ghi nhận duy nhất một trường hợp dị tật bẩm sinh là bất thường khúc nối bể thận – niệu quản ở trẻ có mẹ dùng hydroxyurea trong 2 tuần đầu thai kỳ. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu nhận định biến cố này không liên quan đến thuốc điều trị.

Đáng chú ý, không có bất kỳ ca tử vong mẹ nào xảy ra trong suốt thời gian nghiên cứu ở cả nhóm có và không phơi nhiễm với hydroxyurea. Tác giả báo cáo đánh giá đây là một kết quả “remarkable” (tạm dịch: “đáng ghi nhận”), đặc biệt trong bối cảnh tỷ lệ tử vong mẹ ở quần thể bệnh nhân hồng cầu hình liềm vốn dĩ cao hơn đáng kể so với dân số chung.

Nhìn chung, tỷ lệ trẻ sinh sống đạt 74% ở cả hai nhóm thai phụ có và không phơi nhiễm hydroxyurea; tỷ lệ sẩy thai lần lượt là 17% ở nhóm phơi nhiễm và 22% ở nhóm không phơi nhiễm.

Trong số 9 phụ nữ duy trì hydroxyurea suốt thai kỳ và sinh con sống, có 5 trường hợp sinh đủ tháng và 4 trường hợp sinh non.

Nghiên cứu ghi nhận một trường hợp thai chết lưu duy nhất ở người mẹ có phơi nhiễm hydroxyurea trong tháng đầu thai kỳ. Tuy nhiên, TS. Habibi nhấn mạnh rằng: “no evident malformation or causal relationship with hydroxyurea exposure was reported by the investigators” (tạm dịch: “các nghiên cứu viên không ghi nhận dị tật rõ ràng nào hay mối liên hệ nhân quả với việc phơi nhiễm hydroxyurea”).

Tỷ lệ chủ động đình chỉ thai ở nhóm phơi nhiễm hydroxyurea là 12%, trong khi nhóm không phơi nhiễm không ghi nhận trường hợp nào. Ngoài ra, có 3 trường hợp phải chấm dứt thai kỳ vì lý do y khoa (2 ca ở nhóm phơi nhiễm và 1 ca ở nhóm không phơi nhiễm). Báo cáo viên cho biết tất cả các trường hợp này đều xuất phát từ mức độ nghiêm trọng của các biến chứng nội khoa ở người mẹ.

Bà kết luận: “further studies including larger numbers of hydroxyurea-exposed pregnancies and long-term follow-up of children are needed” (tạm dịch: “vẫn cần thêm các nghiên cứu cỡ mẫu lớn hơn trên thai kỳ có phơi nhiễm hydroxyurea cùng với việc theo dõi dài hạn sức khỏe của trẻ”).