TS. Yong Joon Kim (Trường Y, Đại học Yonsei, Seoul) cùng các cộng sự nhấn mạnh: “pediatric patients with uveitis should be carefully monitored for diverse IMIDs with attention to individual patient characteristics and risk profiles” (tạm dịch: “cần theo dõi chặt chẽ nguy cơ mắc nhiều bệnh lý IMID khác nhau ở bệnh nhi viêm màng bồ đào, đặc biệt lưu ý đến các đặc điểm lâm sàng và yếu tố nguy cơ của từng cá thể”).

Nhóm nghiên cứu đã phân tích dữ liệu bảo hiểm y tế và xác định 27.656 bệnh nhi được chẩn đoán viêm màng bồ đào không do nhiễm trùng trong giai đoạn 2011–2022, đang sử dụng corticosteroid tại mắt hoặc toàn thân nhưng chưa từng có tiền sử mắc các bệnh IMID. Độ tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân này là 12,6 tuổi, trong đó trẻ nam chiếm 58,3%.

Sau thời gian theo dõi trung bình 6 năm, tỷ lệ tích lũy sau 5 năm mắc 13 bệnh lý IMID được chỉ định trước là 8,52%. Tỷ lệ này ở trẻ gái có phần cao hơn so với trẻ trai (10,03% so với 7,45%), đồng thời nhóm từ 10–19 tuổi có tỷ lệ mắc cao hơn nhóm 0–9 tuổi (9,00% so với 7,03%).

Danh sách 13 bệnh lý IMID bao gồm: viêm khớp tự phát thiếu niên (JIA), viêm cột sống dính khớp (AS), viêm thận kẽ – ống thận (TIN), bệnh Behçet, bệnh Kawasaki, bệnh sarcoidosis, lupus ban đỏ hệ thống (SLE), xơ cứng rải rác, vảy nến, viêm khớp vảy nến, hội chứng kháng phospholipid, bệnh viêm ruột (IBD) và viêm khớp phản ứng.

Trong số này, viêm cột sống dính khớp có tỷ lệ tích lũy sau 5 năm cao nhất với 2,53%, tiếp theo là TIN (1,90%), vảy nến (1,59%), SLE (0,69%), bệnh Behçet (0,68%) và JIA (0,66%); hội chứng kháng phospholipid ghi nhận tỷ lệ thấp nhất với 0,04%.

Các tác giả ghi nhận nguy cơ tiến triển thành IMID ở nhóm bệnh nhi này cao vượt trội so với trẻ cùng độ tuổi và giới tính nhưng không mắc viêm màng bồ đào, với tỷ số mắc bệnh chuẩn hóa (SIR) là 6,78. Mức độ rủi ro ở trẻ gái cao hơn trẻ trai (SIR = 7,81 so với 5,99) và ở nhóm tuổi lớn hơn cao hơn nhóm tuổi nhỏ (SIR = 10,02 so với 2,78).

Xét riêng từng bệnh lý, nguy cơ tăng đặc biệt rõ rệt đối với bệnh sarcoidosis (SIR = 444,48). Các nhà nghiên cứu nhận định kết quả này có thể “reflect the predilection of pediatric sarcoidosis to present with ocular involvement” (tạm dịch: “phản ánh khuynh hướng khởi phát tổn thương tại mắt ở trẻ mắc bệnh sarcoidosis”). Tiếp sau đó là viêm cột sống dính khớp (SIR = 68,94) và bệnh Behçet (SIR = 66,29).

Từ ghi nhận tỷ lệ hiện mắc và chỉ số SIR cao nhất tập trung ở nhóm bệnh thấp khớp, nhóm tác giả khuyến nghị trên tạp chí JAMA Network Open: “we recommend referring noninfectious uveitis patients to pediatric rheumatologists” (tạm dịch: “chúng tôi khuyến cáo nên chuyển tuyến bệnh nhân viêm màng bồ đào không nhiễm trùng sang bác sĩ chuyên khoa thấp khớp nhi”).

Nghiên cứu cũng đánh giá việc sử dụng thuốc ức chế miễn dịch sau khi có chẩn đoán viêm màng bồ đào. Kết quả cho thấy trong số 27.882 đối tượng chưa từng dùng liệu pháp này trước đó, có 2,39% bệnh nhân bắt đầu phải dùng thuốc trong vòng 5 năm đầu; tỷ lệ này đặc biệt cao ở nhóm viêm màng bồ đào không phải thể trước.

Nhóm nghiên cứu nhận định: “This pattern aligns with clinical practice, where intermediate, posterior, and panuveitis often require immunosuppression” (tạm dịch: “Xu hướng này hoàn toàn phù hợp với thực hành lâm sàng, khi viêm màng bồ đào trung gian, sau và toàn bộ thường đòi hỏi phải can thiệp bằng thuốc ức chế miễn dịch”).

Chỉ định dùng thuốc ức chế miễn dịch cũng phổ biến hơn ở nhóm 6.006 bệnh nhân được điều trị tại các cơ sở y tế tuyến hai và tuyến ba (tỷ lệ 8,42%), so với mức 0,67% ở 21.650 bệnh nhân điều trị tại tuyến y tế cơ sở.

Ngoài ra, chủng loại thuốc ức chế miễn dịch được kê đơn cũng có sự khác biệt rõ rệt theo tuyến điều trị. Các nhóm thuốc chống chuyển hóa được dùng phổ biến hơn ở tuyến hai và tuyến ba so với tuyến cơ sở, bao gồm methotrexate (8,40% so với 0,41%), mycophenolate (1,93% so với 0,07%) và azathioprine (2,00% so với 0,19%). Ngược lại, tại y tế cơ sở, các thuốc được chỉ định nhiều nhất lại là colchicine (1,06%) và sulfasalazine (0,61%).

TS. Kim cùng cộng sự đi đến kết luận: “[b]ecause pediatric uveitis may be a sentinel manifestation of systemic disease, these results [support] targeted surveillance and timely intervention to reduce long-term morbidity” (tạm dịch: “Vì viêm màng bồ đào ở trẻ em có thể là dấu hiệu điểm chỉ cho một bệnh lý toàn thân, các kết quả nghiên cứu này ủng hộ việc thiết lập quy trình theo dõi trọng tâm và can thiệp kịp thời nhằm giảm thiểu gánh nặng bệnh tật lâu dài cho người bệnh”).