BS Amelia Santosa (Bệnh viện Đại học Quốc gia Singapore) cùng các cộng sự nhận định: “[R]outine serum transaminase monitoring in gout patients treated with allopurinol may not be necessary, unless patients develop features of allopurinol hypersensitivity or clinical hepatotoxicity” (tạm dịch: “Việc theo dõi men transaminase huyết thanh thường quy ở bệnh nhân gút điều trị bằng allopurinol có thể không thực sự cần thiết, trừ khi người bệnh xuất hiện các biểu hiện quá mẫn với allopurinol hoặc có dấu hiệu nhiễm độc gan trên lâm sàng”).

Nhóm nghiên cứu phân tích thêm: “Not only will [the] cost of frequent liver enzyme testing be saved, inappropriate cessation of this efficacious drug in unrelated mild-moderate AST/ALT [aspartate aminotransferase/alanine aminotransferase] elevation will also be avoided” (tạm dịch: “Chiến lược này không chỉ tiết kiệm chi phí xét nghiệm men gan lặp lại nhiều lần, mà còn giúp tránh việc ngừng thuốc thiếu cơ sở đối với một liệu pháp hạ urate hiệu quả khi men AST/ALT chỉ tăng nhẹ đến trung bình do các nguyên nhân không liên quan”).

Tuy vậy, nhóm tác giả cũng lưu ý: “[L]arger and longer-term studies should be performed to confirm our findings so as to guide clinical practice” (tạm dịch: “Cần tiến hành thêm các nghiên cứu quy mô lớn hơn với thời gian theo dõi dài hơn nhằm củng cố các kết quả này trước khi chuẩn hóa vào thực hành lâm sàng”).

Nghiên cứu quan sát này theo dõi 150 bệnh nhân gút trưởng thành từ 21 tuổi trở lên (độ tuổi trung bình 57; 95% là nam giới) được quản lý tại các phòng khám chuyên khoa ngoại trú thuộc một bệnh viện tuyến cuối trong giai đoạn 2011–2018. Tất cả người bệnh đều mới khởi trị allopurinol trong vòng 6 tháng trước thời điểm đưa vào nghiên cứu với nồng độ men gan hoàn toàn bình thường, sau đó tiếp tục được theo dõi qua 2 lần tái khám trong thời gian trung vị 33,5 tuần.

Tại thời điểm ban đầu, 8% bệnh nhân có bệnh gan từ trước; trong đó tỷ lệ bệnh gan thoái hóa mỡ liên quan rối loạn chuyển hóa (MASLD) là 7,3% và xơ gan là 0,6%. Ngoài ra, có 28,9% bệnh nhân béo phì và 21,5% ghi nhận có thói quen sử dụng rượu bia. Trong quá trình theo dõi, nghiên cứu ghi nhận thêm 5,3% trường hợp phát triển MASLD mới.

Allopurinol được bác sĩ chuyên khoa cơ xương khớp chủ động dò chỉnh tăng dần liều nhằm đạt mục tiêu acid uric huyết thanh dưới 360 µmol/L (<6 mg/dL) đối với gút chưa có hạt tophi và dưới 300 µmol/L (<5 mg/dL) đối với thể gút có hạt tophi.

Nhìn chung, có 20% bệnh nhân ghi nhận tăng men aminotransferase huyết thanh (AST >50 U/L và/hoặc ALT >70 U/L) trong thời gian nghiên cứu, trong đó 43,3% trường hợp có MASLD phối hợp.

Cụ thể, tại lần tái khám thứ hai, có 19 bệnh nhân xuất hiện tăng men AST/ALT mức độ nhẹ (gấp 1–2 lần giới hạn trên bình thường) hoặc trung bình (gấp 2–3 lần giới hạn trên bình thường) khi đang dùng allopurinol. Trong nhóm này, 17 trường hợp vẫn tiếp tục được tăng liều allopurinol, 1 trường hợp duy trì mức liều cũ và chỉ có 1 trường hợp quyết định ngừng thuốc.

Báo cáo trên tạp chí Arthritis Care & Research cho thấy, đối với 18 bệnh nhân tiếp tục duy trì hoặc tăng liều allopurinol, đến lần tái khám thứ ba có 27,8% giữ nồng độ transaminase ổn định, 11,1% tự thuyên giảm và 33,3% hồi phục hoàn toàn về mức bình thường.

Nhóm tác giả nhấn mạnh: “None experienced worsening transaminases with this approach” (tạm dịch: “Không ghi nhận bất kỳ trường hợp nào tăng nặng thêm men transaminase khi áp dụng chiến lược xử trí này”).

Tại lần tái khám thứ ba, dù có 18 bệnh nhân ghi nhận tăng nhẹ hoặc vừa AST/ALT, phần lớn (11 trường hợp) là mới xuất hiện lần đầu. Liều allopurinol trung bình tại thời điểm này đạt 385,4 mg ở nhóm có tăng men gan, so với 355,7 mg ở nhóm duy trì men gan bình thường.

Sau ba lần đánh giá, 34% trong tổng số 150 bệnh nhân đã đạt mục tiêu acid uric huyết thanh kiểm soát, bao gồm 30% trong nhóm 30 bệnh nhân từng ghi nhận có tăng men gan trong quá trình điều trị.

Phân tích đa biến nhằm tìm kiếm các yếu tố nguy cơ liên quan đến tăng men gan khi điều trị allopurinol không phát hiện mối liên quan nào với mức liều allopurinol hay chỉ số khối cơ thể (BMI). Trái lại, nguy cơ tăng men gan tăng lên có ý nghĩa ở nhóm người bệnh hiện vẫn uống rượu bia (tỷ số chênh hiệu chỉnh [aOR] = 3,52 so với nhóm đã ngưng) và nhóm không được điều trị kèm statin (aOR = 3,41 so với nhóm có dùng statin).

Các tác giả cũng thẳng thắn thừa nhận một số hạn chế của nghiên cứu, bao gồm việc chưa khảo sát toàn diện bilan gan (chưa định lượng phosphatase kiềm nhằm tầm soát ứ mật) và dữ liệu hiện tại mới chỉ áp dụng cho nhóm bệnh nhân có chức năng men gan ban đầu hoàn toàn bình thường.

Dẫu vậy, nhóm nghiên cứu đưa ra kết luận: “Allopurinol use does not influence risk of serum aminotransferase elevation and can be safely escalated in patients with mild-moderately raised liver enzymes” (tạm dịch: “Sử dụng allopurinol không làm tăng nguy cơ tăng men aminotransferase huyết thanh, và việc dò tăng liều thuốc vẫn có thể tiến hành an toàn trên những bệnh nhân có tăng men gan ở mức độ nhẹ đến trung bình”).