Bộ mô hình thứ nhất tập trung vào việc sàng lọc những bệnh nhân vảy nến mới khởi phát cần được chuyển khám chuyên khoa cơ xương khớp – thấp khớp học; trong khi bộ mô hình thứ hai đóng vai trò dự báo nguy cơ tiến triển thành viêm khớp vảy nến (PsA) thực sự trên lâm sàng ở nhóm người bệnh đã có triệu chứng dưới lâm sàng.

Nhóm nghiên cứu do TS. Axel Svedbom (Viện Karolinska, Stockholm, Thụy Điển) dẫn đầu nhận định: “These models indicate that prediction of psoriatic arthritis at onset of psoriasis could be possible, but external validation is necessary before implementation in clinical practice” (tạm dịch: “Các mô hình này cho thấy việc dự đoán viêm khớp vảy nến ngay từ khi khởi phát bệnh vảy nến là hoàn toàn khả thi, song vẫn cần kiểm định giá trị từ các đoàn hệ độc lập bên ngoài trước khi đưa vào ứng dụng lâm sàng”).

Bình luận về nghiên cứu, TS. Lihi Eder (Đại học Toronto, Ontario, Canada) và TS. Alexis Ogdie (Trường Y Perelman thuộc Đại học Pennsylvania, Philadelphia, Hoa Kỳ) cho rằng: “current value lies in increasing clinical attention and defining enriched populations for future studies examining the risk for psoriatic arthritis and interventions directed at reducing risk” (tạm dịch: “giá trị hiện tại của mô hình nằm ở việc nâng cao cảnh giác lâm sàng và định hình các nhóm quần thể nguy cơ cao phục vụ cho các nghiên cứu tương lai về nguy cơ viêm khớp vảy nến cũng như các can thiệp nhằm giảm thiểu nguy cơ này”).

Dự báo chỉ định chuyển chuyên khoa thấp khớp đối với viêm khớp vảy nến

Nhóm nghiên cứu đã phân tích dữ liệu từ 628 bệnh nhân vảy nến chưa từng mắc PsA thuộc Đoàn hệ Vảy nến Stockholm (Stockholm Psoriasis Cohort), được thu nhận trong vòng 1 năm kể từ khi xuất hiện tổn thương vảy nến đầu tiên trên vùng da nhẵn trong giai đoạn 2001–2005. Độ tuổi trung bình của các đối tượng tham gia là 40,9 tuổi và nữ giới chiếm 55%.

Tổng cộng có 13% trường hợp đồng mắc PsA, được xác định tại thời điểm khám ban đầu với bác sĩ thấp khớp hoặc trong vòng 1 năm sau khi được bác sĩ da liễu đánh giá.

Từ dữ liệu này kết hợp cùng tổng quan y văn và kinh nghiệm lâm sàng, các tác giả đã chọn lọc các yếu tố nguy cơ tiềm năng liên quan đến PsA. Trong đó, ba yếu tố lâm sàng chính được sử dụng để đưa ra quyết định chuyển tuyến thấp khớp bao gồm: sự hiện diện của triệu chứng cơ xương khớp, khởi phát thể giọt (guttate), và tình trạng mệt mỏi thể chất.

Kết quả ghi nhận 13 bệnh nhân đang có triệu chứng đau khớp kèm mức độ mệt mỏi thể chất đạt tối đa 5 điểm trên thang đo Likert (tương đương mức độ rất thường xuyên) có tỷ lệ đồng mắc PsA cao nhất, lên tới 62%.

Ngược lại, ở nhóm 398 bệnh nhân hoàn toàn không có triệu chứng cơ xương khớp, tỷ lệ đồng mắc PsA chỉ dừng lại ở mức 1%.

Mô hình này đạt độ chính xác với diện tích dưới đường cong (AUC) là 83% trong việc phát hiện những bệnh nhân có khả năng cao đồng mắc PsA cần chuyển gửi chuyên khoa thấp khớp.

Khi tích hợp thêm các chỉ số cận lâm sàng gồm nồng độ hs-CRP trên 2,6 mg/L và điểm số diện tích và độ nặng vảy nến (PASI) trên 5,6 vào các biến số lâm sàng kể trên, độ chính xác của mô hình vẫn duy trì ở mức 83%.

Tuy nhiên, việc bổ sung các thông số xét nghiệm này đã giúp nhận diện thêm nhóm nguy cơ trung bình ở những bệnh nhân đang đau khớp nhưng không mệt mỏi thể chất, có khởi phát thể giọt hoặc thể mảng kết hợp nồng độ hs-CRP từ 2,6 mg/L trở xuống và điểm PASI không quá 5,6. Tỷ lệ đồng mắc PsA ở nhóm này là 20%, và tăng vọt lên 51% ở những bệnh nhân có hs-CRP hoặc PASI vượt các ngưỡng cắt nêu trên.

Hai chuyên gia Eder và Ogdie nhấn mạnh những phát hiện này càng củng cố “the importance of paying attention to musculoskeletal symptoms in patients with psoriasis” (tạm dịch: “tầm quan trọng của việc chú ý đến các triệu chứng cơ xương khớp ở bệnh nhân vảy nến”). Đồng thời, họ cũng đặt ra nghi vấn: “if arthralgia is the dominant signal, do we need a complex model, or should every patient with psoriasis and musculoskeletal pain simply be referred?” (tạm dịch: “liệu khi đau khớp đã là dấu hiệu mang tính quyết định, chúng ta có thực sự cần một mô hình phức tạp hay chỉ đơn giản là chuyển gửi chuyên khoa cho tất cả người bệnh vảy nến có triệu chứng đau cơ xương khớp?”).

Theo dõi nguy cơ tiến triển thành PsA trên lâm sàng

Nhóm nghiên cứu của Svedbom áp dụng phương pháp tương tự cho bộ mô hình thứ hai, dựa trên dữ liệu của 138 bệnh nhân trong đoàn hệ có triệu chứng cơ xương khớp nhưng chưa mắc PsA. Trong số này, 15% được chẩn đoán xác định PsA trong vòng 3 năm và thêm 17% phát triển bệnh trong khoảng thời gian từ 3 đến 15 năm.

Các yếu tố dự báo trong vòng 3 năm bao gồm: tình trạng kháng nguyên HLA-B27, tình trạng đau điểm bám gân cột sống/trục, đau điểm bám gân ngoại biên, tự đánh giá sức khỏe toàn trạng qua thang điểm tương tự thị giác (VAS; thang điểm 0–10 cm), nồng độ triglyceride, số vị trí đau và số lượng khớp đau khi khám. Mô hình này đạt độ chính xác 84% trong việc phân định giữa nhóm bệnh nhân có và không tiến triển thành PsA.

Để dự báo nguy cơ tiến triển PsA dài hạn trong vòng 15 năm, mô hình được bổ sung thêm hai yếu tố là tiền sử viêm màng bồ đào tái phát và logarit tự nhiên của hs-CRP. Độ chính xác của mô hình dài hạn này đạt 76%.

Các tác giả ghi nhận rằng: “[p]ain, HLA-B27, and systemic inflammation were the strongest predictors for future psoriatic arthritis” (tạm dịch: “Đau, HLA-B27 và tình trạng viêm hệ thống là những yếu tố dự báo mạnh mẽ nhất cho sự tiến triển viêm khớp vảy nến trong tương lai”).

Độ ổn định và sai số dự đoán trên toàn bộ các mô hình đạt mức tối ưu nhất ở nhóm bệnh nhân có nguy cơ thấp rõ rệt, và dao động nhiều nhất ở nhóm nguy cơ trung bình.

Khảo sát ý kiến từ 42 bác sĩ chuyên khoa thấp khớp và da liễu tại 11 quốc gia cho thấy ngưỡng nguy cơ được đồng thuận hợp lý trên lâm sàng là 20–40% đối với quyết định chuyển tuyến, 30–45% đối với dự báo nguy cơ trong 3 năm và 50–60% đối với dự báo nguy cơ trong 15 năm. Trong các khoảng ngưỡng này, các mô hình “provided positive net benefit compared with refer all or refer none strategies” (tạm dịch: “đã mang lại lợi ích ròng tích cực so với các chiến lược chuyển gửi đại trà hoặc không chuyển gửi bất kỳ ai”), mặc dù đối với mô hình chuyển tuyến không kết hợp xét nghiệm thì lợi ích này không bao phủ được toàn bộ dải giá trị.

Nhóm nghiên cứu bổ sung thêm rằng, dù mang lại giá trị thực tiễn cho quyết định chuyển viện và theo dõi, song mô hình “but appeared to be of limited value for decisions about preventive treatment” (tạm dịch: “dường như còn hạn chế về mặt giá trị khi đưa ra các quyết định điều trị dự phòng”), đòi hỏi cần có “substantial refinement” (tạm dịch: “sự tinh chỉnh đáng kể”) trước khi áp dụng rộng rãi, chẳng hạn như bổ sung các dấu ấn sinh học nguy cơ mới hoặc hình ảnh siêu âm khớp.

Dẫu vậy, các tác giả kết luận: “If external validation shows similar predictive performance, these models have the potential to improve care for participants with psoriasis and psoriatic arthritis by allowing for clear paths to early diagnosis” (tạm dịch: “Nếu quá trình kiểm định ngoài cho thấy hiệu quả dự đoán tương đương, các mô hình này sẽ có tiềm năng nâng cao chất lượng chăm sóc cho bệnh nhân vảy nến và viêm khớp vảy nến thông qua việc vạch ra lộ trình rõ ràng để chẩn đoán sớm”).