TS. Marina Vilardo (Hệ thống Y tế Mass General Brigham, Boston, Massachusetts, Hoa Kỳ) cùng các cộng sự nhận định: “The high rates of clinical improvement and low complication rates suggest that plasmapheresis should be considered a therapeutic option, particularly in steroid-refractory cases, where the risk of irreversible damage is higher” (tạm dịch: “Tỷ lệ cải thiện lâm sàng cao cùng tỷ lệ biến chứng thấp cho thấy thay huyết tương nên được cân nhắc là một lựa chọn điều trị, đặc biệt trong các trường hợp kháng steroid – nhóm đối tượng có nguy cơ tổn thương vĩnh viễn cao hơn”).
Dù vậy, nhóm tác giả cũng lưu ý: “the reporting of nonserious adverse events in retrospective studies is often incomplete and should be interpreted with caution” (tạm dịch: “việc báo cáo các biến cố bất lợi không nghiêm trọng trong những nghiên cứu hồi cứu thường chưa đầy đủ và cần được nhìn nhận một cách thận trọng”).
Các dữ liệu gần đây chỉ ra rằng thay huyết tương có thể mang lại hiệu quả vượt trội so với methylprednisolone đường tĩnh mạch (IVMP) đơn trị liệu. Điều này đặt ra vấn đề liệu có nên khuyến cáo thay huyết tương ngay từ đầu trong các đợt bùng phát hoặc tái phát MOGAD cấp tính nhằm hạn chế tối đa nguy cơ di chứng do trì hoãn can thiệp hay không.
Nhằm làm rõ câu hỏi trên, các nhà nghiên cứu đã tiến hành tìm kiếm dữ liệu y văn toàn diện tính đến tháng 10 năm 2025, chọn lọc các nghiên cứu có tối thiểu năm bệnh nhân được điều trị đợt cấp MOGAD bằng thay huyết tương, IVMP hoặc immunoglobulin truyền tĩnh mạch (IVIG).
Tổng quan đã thu nhận 10 nghiên cứu quan sát xuất bản từ năm 2006 đến 2015, bao gồm 1045 bệnh nhân với 1368 đợt cấp MOGAD (56,5% là nữ, độ tuổi trung bình 35 tuổi) đến từ 120 trung tâm tại 14 quốc gia.
Trong đó, 8 nghiên cứu đủ điều kiện đưa vào phân tích gộp với 710 bệnh nhân (59,1% nữ, độ tuổi trung bình 35 tuổi) trải qua 1033 đợt bùng phát. Về mặt lâm sàng, 40,2% đợt cấp biểu hiện dưới dạng viêm thị thần kinh đơn thuần, 11,3% là viêm tủy, 0,4% có khiếm khuyết thần kinh não bộ và 39,3% là thể phối hợp giữa viêm thị thần kinh, viêm tủy và/hoặc tổn thương não bộ.
Tại thời điểm khởi phát, điểm số EDSS (thang đánh giá mức độ tàn tật mở rộng) trung bình của bệnh nhân là 4/10, tương đương với mức vẫn có khả năng tự đi bộ khoảng 500 m mà không cần trợ giúp hay nghỉ ngơi; trong khi đó, thị lực trung bình theo thang logMAR ghi nhận ở mức 1,56, phản ánh tình trạng tổn thương thị thần kinh cấp tính gây suy giảm thị lực nghiêm trọng.
Các phác đồ can thiệp đợt cấp MOGAD bao gồm IVMP, thay huyết tương, và/hoặc IVIG, hoặc không can thiệp. Phác đồ thay huyết tương thông thường được áp dụng cách ngày với trung vị là 5 chu kỳ; một số nghiên cứu áp dụng phác đồ cố định hoặc đặt ngưỡng số chu kỳ tối thiểu. Khoảng thời gian trung bình từ lúc khởi phát triệu chứng đến khi bắt đầu lọc huyết tương là 15,2 ngày.
Sau thời gian theo dõi trung bình 6 tháng, phân tích gộp cho thấy nhìn chung thay huyết tương (kèm hoặc không kèm IVMP) giúp đạt kết cục xuất sắc—định nghĩa là phục hồi hoàn toàn hoặc gần như hoàn toàn—ở 47% trong số 491 đợt cấp, và đạt mức phục hồi tốt có ý nghĩa lâm sàng ở 94% đợt cấp. Các con số tương ứng ở nhóm chỉ dùng IVMP đơn thuần lần lượt là 67% và 73%.
Phân tích phân nhóm trên các đợt viêm thị thần kinh đơn độc từ 4 nghiên cứu cho thấy thay huyết tương giúp 81% bệnh nhân phục hồi xuất sắc tại thời điểm 3–6 tháng; tỷ lệ này đạt 69% ở hai nghiên cứu theo dõi ít nhất 6 tháng. Ngoài ra, phân tích ở 6 nghiên cứu trên nhóm bệnh nhân can thiệp thay huyết tương cứu vãn sau khi thất bại với IVMP ghi nhận 29% trường hợp phục hồi xuất sắc.
Đánh giá thị lực logMAR trước và sau thay huyết tương trong ba nghiên cứu cho thấy sự cải thiện đáng kể với mức chênh lệch trung bình đạt 1,43; trong khi ở hai nghiên cứu sử dụng IVMP trước khi thay huyết tương, mức chênh lệch là 1,22. Nhóm nghiên cứu ghi nhận rằng mức độ giảm thị lực ban đầu “not associated with the magnitude of improvement” (tạm dịch: “không liên quan đến mức độ cải thiện”), mặc dù nhận định này “highly imprecise because of the small number of studies” (tạm dịch: “độ chính xác còn rất hạn chế do cỡ mẫu nghiên cứu còn nhỏ”).
Tỷ lệ gặp biến cố bất lợi liên quan đến thay huyết tương là 3,0%, trong đó biến cố nghiêm trọng chỉ chiếm 0,5% trường hợp.
Các tác giả cũng nhìn nhận rằng tất cả các nghiên cứu được đưa vào phân tích đều có nguy cơ sai lệch ở mức trung bình, mức độ không đồng nhất “high” (tạm dịch: “cao”) về thiết kế nghiên cứu cũng như đặc điểm dân số, đồng thời tồn tại “several important limitations” (tạm dịch: “nhiều hạn chế quan trọng”), đặc biệt là các kết luận đều “based on indirect comparisons across observational studies rather than head-to-head randomized trials” (tạm dịch: “dựa trên các so sánh gián tiếp từ những nghiên cứu quan sát thay vì các thử nghiệm ngẫu nhiên đối đầu trực tiếp”).
Chính vì vậy, nhóm nghiên cứu nhấn mạnh: “Consequently, the results should be interpreted as hypothesis-generating rather than definitive evidence of comparative effectiveness” (tạm dịch: “Do đó, các kết quả này nên được xem là mang tính gợi mở giả thuyết hơn là bằng chứng xác đáng khẳng định về hiệu quả so sánh”).