Báo cáo tại Hội nghị Tim mạch Châu Âu (ESC Congress) 2026, GS. Sophia Zoungas (Đại học Monash, Melbourne, Úc) cho biết việc sử dụng atorvastatin không mang lại cải thiện có ý nghĩa thống kê đối với tiêu chí chính đồng thời là thời gian sống không tàn phế (disability-free survival).

Dù vậy, “this remains an important outcome for older people and the focus of further analyses and research” (tạm dịch: “đây vẫn là một kết cục thiết yếu ở người cao tuổi và là trọng tâm cho các phân tích cũng như nghiên cứu chuyên sâu tiếp theo”), bà nhấn mạnh trước các đại biểu tại Munich, Đức.

Bình luận về kết quả này, GS. Francois Mach từ Bệnh viện Đại học Geneva (Thụy Sĩ) đánh giá STAREE là nghiên cứu có khả năng thay đổi thực hành lâm sàng, khẳng định: “age alone should no longer be used as a reason to withhold statin therapy for primary prevention” (tạm dịch: “tuổi tác đơn thuần không còn là lý do để trì hoãn hoặc từ chối chỉ định statin trong dự phòng nguyên phát”).

Tuy nhiên, ông cũng lưu ý rằng kết quả từ STAREE không hàm ý “every person 70 years old or older should automatically receive statin treatment” (tạm dịch: “mọi cá nhân từ 70 tuổi trở lên đều mặc nhiên được chỉ định dùng statin”), đồng thời nhấn mạnh “decisions should integrate life expectancy, competing risks, treatment burden, and patient priorities” (tạm dịch: “quyết định lâm sàng cần dung hòa giữa kỳ vọng sống, các nguy cơ cạnh tranh, gánh nặng điều trị và ưu tiên của chính người bệnh”).

GS. Mach đúc kết những vấn đề mấu chốt hiện nay là: “which older adults should we treat, for how long, and does preventing an event give them a more meaningful life?” (tạm dịch: “nhóm người cao tuổi nào cần can thiệp, thời gian điều trị kéo dài bao lâu, và liệu việc ngăn ngừa một biến cố tim mạch có thực sự mang lại cuộc sống ý nghĩa hơn cho họ hay không?”).

Thử nghiệm mù đôi này thu nhận 9.971 người cao tuổi sống tại cộng đồng (52% là nữ, 98% là người da trắng) từ 70 tuổi trở lên, đăng ký quản lý tại các cơ sở chăm sóc ban đầu trên khắp nước Úc, không có tiền sử bệnh tim mạch lâm sàng, đái tháo đường hay sa sút trí tuệ.

Sau thời gian theo dõi trung vị 5,9 năm, tỷ lệ biến cố tim mạch chính (MACE) tích lũy – bao gồm tử vong do tim mạch, nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ không tử vong, hay can thiệp tái tưới máu mạch vành – là 6,0% ở nhóm 4.984 người tham gia được phân ngẫu nhiên dùng atorvastatin 40 mg/ngày.

Con số này thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với mức 8,3% ở nhóm đối chứng gồm 4.987 người dùng giả dược, tương ứng với tỷ số nguy hại (hazard ratio) là 0,70, nghiêng về lợi ích của statin.

Tuy vậy, tỷ lệ tích lũy của tiêu chí gộp gồm tử vong do mọi nguyên nhân, sa sút trí tuệ hoặc tàn phế thể chất kéo dài ghi nhận mức tương đương giữa hai nhóm, lần lượt là 12,8% ở nhóm dùng atorvastatin và 13,6% ở nhóm chứng.

Xét về độ an toàn, tỷ lệ gặp bất kỳ biến cố bất lợi nào (AE) là 63,0% ở nhóm dùng atorvastatin và 58,7% ở nhóm dùng giả dược.

Các biến cố bất lợi nghiêm trọng “were uncommon” (tạm dịch: “khá hiếm gặp”), xảy ra với tỷ lệ tương đồng 2,7% ở cả hai nhánh nghiên cứu; tỷ lệ ngừng thuốc do biến cố bất lợi lần lượt là 7,2% và 6,1%.

GS. Zoungas lưu ý thêm: “As may be anticipated, muscle, liver, and diabetes adverse events were more common in participants in the atorvastatin than placebo group” (tạm dịch: “Đúng như dự đoán, các biến cố bất lợi trên cơ, gan và chuyển hóa đái tháo đường xuất hiện phổ biến hơn ở nhóm can thiệp atorvastatin so với nhóm giả dược”).

Bà kết luận dữ liệu nghiên cứu “underscore the safety of use of statins in older people” (tạm dịch: “củng cố thêm bằng chứng về độ an toàn khi sử dụng statin ở người cao tuổi”).

Các kết quả này đồng thời được công bố trên tạp chí The New England Journal of Medicine.