Công bố trên tạp chí JAMA Neurology, nhóm nghiên cứu do TS. Lee Neilson thuộc Trung tâm Y tế Cựu chiến binh Portland (Oregon, Hoa Kỳ) dẫn đầu báo cáo rằng OSA “appeared to be an independent risk factor for the later development of PD and could be modified by early treatment with CPAP” (tạm dịch: “dường như là một yếu tố nguy cơ độc lập đối với sự phát triển bệnh Parkinson sau này và có thể thay đổi được thông qua can thiệp CPAP sớm”).

Các tác giả nhấn mạnh thêm rằng: “[e]ffective screening measures and protocols for consistent adherence to CPAP may have large impacts on brain health” (tạm dịch: “Các biện pháp tầm soát hiệu quả cùng phác đồ duy trì tuân thủ CPAP chặt chẽ có thể đem lại lợi ích to lớn cho sức khỏe não bộ”).

Nghiên cứu tiến hành phân tích hồ sơ bệnh án điện tử giai đoạn 1999–2022 của 11.310.411 cựu chiến binh Hoa Kỳ từ 40 tuổi trở lên (độ tuổi trung bình 60,5 tuổi; 16,1% là người da đen hoặc gốc Phi; 90,2% là nam giới). Trong số này, 13,7% được chẩn đoán mắc OSA và 9,3% đang điều trị bằng CPAP.

Sau thời gian theo dõi trung bình 4,9 năm, nhóm cựu chiến binh mắc OSA có nguy cơ tiến triển thành bệnh Parkinson cao gần gấp 2 lần so với nhóm không mắc bệnh, với tỷ số nguy cơ có ý nghĩa thống kê là HR = 1,92. Số ca Parkinson phát sinh thêm trên 1.000 người ở nhóm OSA so với nhóm chứng dao động từ 0,51 ca tại thời điểm 2 năm đến 1,61 ca sau 6 năm theo dõi.

Mối liên quan giữa OSA và bệnh Parkinson vẫn duy trì ý nghĩa thống kê sau khi đã hiệu chỉnh các yếu tố như tuổi, giới tính, chủng tộc, dân tộc, chỉ số khối cơ thể (BMI), tiền sử hút thuốc lá và nguy cơ tử vong cạnh tranh. Đáng chú ý, phân tích theo giới tính ghi nhận tác động của OSA lên nguy cơ mắc Parkinson ở phụ nữ rõ rệt hơn nhiều so với nam giới (HR = 4,24 so với 2,21).

Trong số 144.643 cựu chiến binh được điều trị CPAP, có 33.600 người bắt đầu thở máy trong vòng 2 năm kể từ khi có chẩn đoán OSA. Nhóm can thiệp sớm này có tỷ lệ mới mắc Parkinson thấp hơn rõ rệt so với nhóm mắc OSA không điều trị CPAP, sự khác biệt được ghi nhận ngay từ năm thứ 2 sau chẩn đoán và giúp giảm 2,28 ca Parkinson trên 1.000 người tại mốc 5 năm.

Các nhà nghiên cứu nhận định: “This absolute risk reduction translates to an estimate of 439 people needing to be treated promptly with CPAP to protect 1 person from developing PD 5 years later” (tạm dịch: “Mức giảm nguy cơ tuyệt đối này ước tính tương đương với chỉ số NNT là 439; nghĩa là cần điều trị CPAP kịp thời cho 439 người để phòng ngừa 1 trường hợp tiến triển thành bệnh Parkinson sau 5 năm”). Nhìn chung, can thiệp CPAP ở người bệnh OSA giúp giảm đáng kể 31% nguy cơ mắc Parkinson so với không điều trị.

Các phân tích độ nhạy tiếp tục củng cố những phát hiện trên. Kết quả chính không thay đổi đáng kể sau khi kiểm soát thêm các yếu tố gồm BMI, bệnh đồng mắc về mạch máu và giấc ngủ, tiền sử chấn thương sọ não, cũng như việc sử dụng thuốc chủ vận dopaminergic hay an thần kinh. Tương tự, việc kiểm soát tần suất khám ngoại trú nhằm loại trừ sai số sử dụng dịch vụ y tế cũng ghi nhận kết quả đồng thuận.

Dù liệu pháp CPAP giúp giảm nguy cơ tiến triển thành Parkinson, các tác giả lưu ý rằng không có “no differences in motor and nonmotor symptoms” (tạm dịch: “không có sự khác biệt về các triệu chứng vận động và ngoài vận động”) sau khi bệnh Parkinson đã được chẩn đoán. Tuy nhiên, họ ghi nhận “there was a statistically significant reduction in the rates of falls, fractures, and mortality in those with early CPAP use” (tạm dịch: “có sự sụt giảm mang ý nghĩa thống kê về tỷ lệ té ngã, gãy xương và tỷ lệ tử vong ở những người được sử dụng CPAP sớm”).

Nhóm nghiên cứu của Neilson kết luận rằng kết quả nghiên cứu đã “establish additional clinical rationale for early screening and intervention of sleep-disordered breathing as a key strategy in supporting brain health” (tạm dịch: “thiết lập thêm cơ sở lâm sàng vững chắc cho việc tầm soát và can thiệp sớm các rối loạn thở khi ngủ, xem đây là một chiến lược then chốt để bảo vệ và duy trì sức khỏe não bộ”).