“This study advocates EUS-GBD with EC-LAMS as the procedure of choice for establishing GBD in suitably selected patients after careful multidisciplinary team discussion” (tạm dịch: “Nghiên cứu này ủng hộ việc lựa chọn EUS-GBD kết hợp EC-LAMS làm can thiệp ưu tiên để dẫn lưu túi mật trên những bệnh nhân được chọn lọc phù hợp sau khi hội chẩn đa chuyên khoa kỹ lưỡng”), TS. James Gauci (Tổ chức Y tế Mid Yorkshire Hospitals NHS Trust, Wakefield, Vương quốc Anh) và các cộng sự công bố trên tạp chí Frontline Gastroenterology.

Theo nhóm tác giả, với những trường hợp cần dẫn lưu túi mật nhưng không thể phẫu thuật, phương pháp kinh điển thường áp dụng là dẫn lưu túi mật xuyên gan qua da (PT-GBD). Tuy nhiên, kỹ thuật này tiềm ẩn nguy cơ tái phát viêm túi mật và đi kèm tỷ lệ biến cố bất lợi liên quan đến ống dẫn lưu khá cao, bao gồm tụt ống, rò rỉ dịch mật, đau và chảy máu. Vì vậy, EUS-GBD có thể được xem là một lựa chọn thay thế an toàn, giúp người bệnh dung nạp tốt hơn.

Nghiên cứu hồi cứu này phân tích dữ liệu từ 64 người bệnh trưởng thành được can thiệp EUS-GBD bằng EC-LAMS tại 12 trung tâm y tế tuyến cuối thuộc Vương quốc Anh và Ireland trong giai đoạn 2016 – 2023. Thời gian theo dõi trung vị đạt 1,3 năm (dao động từ 15 ngày đến 3,0 năm).

Độ tuổi trung vị của nhóm nghiên cứu là 74,5 tuổi, trong đó nữ giới chiếm 68,8%. Chỉ định thực hiện EUS-GBD gồm viêm túi mật (95%) và dẫn lưu đường mật (5%). Ở nhóm viêm túi mật, căn nguyên phổ biến nhất là sỏi mật lành tính (48%), tiếp theo là tắc nghẽn ống túi mật do bệnh lý ác tính (43%). Các tổn thương nguyên phát thường gặp nhất trong nhóm ác tính là ung thư biểu mô tuyến ống tụy và ung thư biểu mô đường mật (cùng chiếm 38%).

Sau khi người bệnh được an thần (81% trường hợp) hoặc gây mê toàn thân (19%), chuyên gia siêu âm nội soi giàu kinh nghiệm tiến hành kỹ thuật EUS-GBD, chủ yếu theo phương pháp đâm trực tiếp không dùng dây dẫn (freehand, 94%) hoặc luồn qua dây dẫn (5%), phần lớn can thiệp qua ngả tá tràng (63%). Bác sĩ nội soi cũng có thể đặt thêm một stent nhựa lồng bên trong LAMS để duy trì độ thông thoáng lâu dài.

Nhóm nghiên cứu của Gauci ghi nhận tỷ lệ thành công về mặt kỹ thuật đạt 95,3%, được định nghĩa là tiếp cận túi mật thành công và đặt trọn vẹn stent EC-LAMS xuyên thành. Tỷ lệ thành công lâm sàng cũng đạt mức tương đương với 94,6%, dựa trên tiêu chí thuyên giảm các thông số lâm sàng của viêm túi mật cấp (bao gồm đau bụng, thân nhiệt, số lượng bạch cầu và nồng độ protein phản ứng C) trong vòng 96 giờ.

Các tác giả lưu ý rằng mọi trường hợp thất bại kỹ thuật đều do không thể tiếp cận được túi mật chứ không phải do lỗi bung stent. Ngoài ra, không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ thành công kỹ thuật với đường tiếp cận dẫn lưu hay phương thức vô cảm (tiền mê so với gây mê toàn thân).

Nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ biến cố bất lợi sớm ở mức thấp: 4,7% xảy ra ngay trong thủ thuật, 2,0% tại thời điểm 14 ngày và 0,0% ở mốc 30 ngày sau can thiệp. Thời gian trung bình xuất hiện biến cố bất lợi là 10,3 ngày.

Khoảng 3% người bệnh gặp biến cố nặng hoặc tử vong trong quá trình thực hiện can thiệp, gồm hai trường hợp viêm phổi hít dẫn đến tử vong và một trường hợp nhiễm trùng huyết đường mật mức độ trung bình.

Tỷ lệ biến cố bất lợi muộn ghi nhận lần lượt là 14,8%, 7,1% và 0,0% tại các mốc 1, 2 và 3 năm, đa số chỉ ở mức độ nhẹ. Tỷ lệ tái phát viêm túi mật là 3,1%, trong khi tỷ lệ tái can thiệp đường mật ngoài kế hoạch lần lượt là 0,0%, 7,0% và 0,0% sau 1, 2 và 3 năm; theo các tác giả, mức này thấp hơn đáng kể so với tỷ lệ ghi nhận trong y văn của phương pháp PT-GBD. Tình trạng thể trạng suy kiệt, không đủ điều kiện sức khỏe là nguyên nhân phổ biến nhất khiến không thể lên lịch rút stent, chiếm 52,0% trường hợp.

Trong số 21 người bệnh mắc bệnh lý lành tính có đủ dữ liệu theo dõi sau 1 năm, chỉ 14% trường hợp được can thiệp rút EC-LAMS, với thời gian lưu stent trung bình đến khi rút là 60,4 ngày.

Các nhà nghiên cứu nhận định: “This suggests that a planned follow-up procedure, with its associated risks, did not actually impact clinical outcome” (tạm dịch: “Điều này cho thấy thủ thuật can thiệp theo dõi theo kế hoạch, cùng những rủi ro đi kèm, thực tế không ảnh hưởng tiêu cực đến kết cục lâm sàng”), đồng thời nhấn mạnh thêm rằng kết quả này “fits with previous studies, meaning that, in suitable patients, a ‘stent and leave’ approach is a viable option” (tạm dịch: “phù hợp với các nghiên cứu trước đây, cho thấy chiến lược ‘đặt và lưu stent dài hạn’ là một lựa chọn hoàn toàn khả thi trên những bệnh nhân phù hợp”).

Gauci và cộng sự cũng thẳng thắn nhìn nhận những hạn chế của nghiên cứu, bao gồm thiết kế hồi cứu không có nhóm chứng, quần thể nghiên cứu có tính không đồng nhất do có 3 ca thực hiện EUS-GBD với mục đích dẫn lưu đường mật chứ không phải vì viêm túi mật cấp, cũng như còn thiếu dữ liệu phân tích về hiệu quả chi phí y tế.

Mặc dù vậy, nhóm nghiên cứu khẳng định báo cáo đã “shows the efficacy and safety of this procedure, particularly in terms of long-term outcomes beyond 1 year” (tạm dịch: “chứng minh được tính hiệu quả và độ an toàn của thủ thuật, đặc biệt là kết cục dài hạn vượt mốc 1 năm”), đồng thời lưu ý cần triển khai thêm các thử nghiệm lâm sàng để củng cố kết luận này “and to identify the optimal duration of LAMS in non-malignant cholecystitis” (tạm dịch: “cũng như xác định thời gian lưu stent LAMS tối ưu trong bệnh lý viêm túi mật không do ác tính”).