“Overall, our findings suggest that for most patients with [Crohn’s disease], the absolute excess cancer risk is small and should be balanced against the substantial benefits of achieving sustained inflammatory control, which itself may reduce other long-term complications,” (tạm dịch: “Nhìn chung, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng ở phần lớn bệnh nhân Crohn, nguy cơ ung thư tuyệt đối tăng thêm là không đáng kể và cần được cân nhắc song hành với những lợi ích vượt trội từ việc kiểm soát phản ứng viêm bền vững, vốn có thể giúp giảm thiểu các biến chứng dài hạn khác”) – TS. Åsa Everhov (Viện Karolinska, Stockholm, Thụy Điển) cùng các cộng sự nhấn mạnh trên tạp chí American Journal of Gastroenterology.
Công trình này phân tích dữ liệu từ 38.733 bệnh nhân mắc bệnh Crohn đối chứng với 360.616 người tương đồng trong quần thể dân số chung, với thời gian theo dõi trung vị là 7,3 năm.
Trong giai đoạn theo dõi, có 7,4% người bệnh Crohn được chẩn đoán mắc một loại ung thư bất kỳ; trong đó, ung thư da không phải melanoma (carcinoma tế bào vảy và tế bào đáy) chiếm 3,9% và cũng là phân nhóm ung thư phổ biến nhất.
Khi phân tích theo các nhóm can thiệp trong năm đầu sau chẩn đoán, nhóm nghiên cứu nhận thấy người bệnh sử dụng thuốc ức chế yếu tố hoại tử u (anti-TNF gồm infliximab, adalimumab hoặc golimumab) có tỷ lệ ung thư phụ trội tăng có ý nghĩa thống kê là 2,42 ca trên 1.000 người-năm so với nhóm chứng. Mức gia tăng phụ trội này là 2,59 ca ở nhóm phối hợp thiopurine với anti-TNF; 3,14 ca ở nhóm đơn trị thiopurine; và 2,43 ca ở nhóm bệnh nhân chưa từng sử dụng thuốc điều hòa miễn dịch.
Bên cạnh đó, mức tăng ung thư phụ trội ghi nhận được là 1,54 ca trên 1.000 người-năm ở người dùng ustekinumab và 2,61 ca trên 1.000 người-năm ở người dùng vedolizumab, tuy nhiên hai sự khác biệt này không đạt mức ý nghĩa thống kê.
Tỷ lệ ung thư cơ bản tương đương sau khi loại trừ ung thư da không phải melanoma
Sau khi loại bỏ ung thư da không phải melanoma khỏi phân tích, các tác giả ghi nhận “cancer incidence was similar to that in the matched population, except in the larger patient cohorts […] in which approximately 1 extra cancer case per 1,000 person-years was observed.” (tạm dịch: “tỷ lệ mới mắc ung thư gần như tương đồng với quần thể đối chứng, ngoại trừ ở các phân nhóm bệnh nhân quy mô lớn hơn […] nơi ghi nhận thêm khoảng 1 ca ung thư phụ trội trên 1.000 người-năm”).
Cụ thể, mức gia tăng phụ trội có ý nghĩa thống kê so với dân số chung là 0,96 ca trên 1.000 người-năm ở nhóm dùng anti-TNF; 1,14 ca trên 1.000 người-năm ở nhóm dùng thiopurine; và 1,27 ca trên 1.000 người-năm ở nhóm chưa qua điều trị miễn dịch; sự khác biệt này không mang ý nghĩa thống kê ở các phác đồ can thiệp còn lại.
Đáng chú ý, sau khi loại trừ ung thư da không phải melanoma, phần lớn chênh lệch nguy cơ còn lại giữa nhóm bệnh Crohn và nhóm đối chứng đến từ ung thư ruột non, ung thư gan mật, các bệnh lý ác tính huyết học và ung thư phổi.
Chênh lệch tỷ lệ mới mắc gia tăng theo độ tuổi
Phân tầng theo nhóm tuổi cho thấy chênh lệch tỷ lệ mới mắc không tăng có ý nghĩa ở trẻ em, nhưng có xu hướng tịnh tiến theo tuổi. Ngược lại, mức chênh lệch tương đối (đo lường bằng tỷ số nguy cơ – HR) lại đạt mức cao nhất ở những bệnh nhân trẻ tuổi và tiệm cận mức 1 ở bệnh nhân cao tuổi trên tất cả các nhánh điều trị.
“From a clinical perspective, these findings are reassuring,” (tạm dịch: “Dưới góc độ lâm sàng, những dữ liệu này mang lại sự an tâm rõ rệt”) – nhóm nghiên cứu của TS. Everhov nhận định.
Các tác giả phân tích thêm: “The absence of an increased overall cancer incidence in pediatric patients supports the continued use of thiopurines and biologics when clinically indicated, as the absolute cancer risk seems to be very low in this age group.” (tạm dịch: “Việc tỷ lệ mới mắc ung thư chung không tăng ở nhóm bệnh nhi là cơ sở củng cố cho việc tiếp tục sử dụng thiopurine và các thuốc sinh học khi có chỉ định lâm sàng, bởi nguy cơ ung thư tuyệt đối ở lứa tuổi này dường như rất thấp”).
Các nhà nghiên cứu cũng lưu ý thêm rằng vì tỷ lệ ung thư tự nhiên luôn tăng dần theo tuổi trong dân số nói chung, nên “a small relative increase in risk may have limited clinical significance in younger adults but become[s] more relevant in patients diagnosed later in life or exposed to inflammation and therapy over decades.” (tạm dịch: “mức tăng nhẹ nguy cơ tương đối có thể ít mang ý nghĩa lâm sàng ở người trẻ tuổi, nhưng sẽ trở nên đáng lưu tâm hơn ở những bệnh nhân được chẩn đoán muộn hoặc đã trải qua nhiều thập kỷ sống chung với phản ứng viêm mạn tính và điều trị thuốc”).
Nhóm nghiên cứu kết luận: “Shared decision-making should therefore consider factors such as patient age, comorbidities, and inflammatory burden.” (tạm dịch: “Do đó, quá trình hội chẩn và cùng đưa ra quyết định lâm sàng cần phải cân nhắc toàn diện các yếu tố như độ tuổi bệnh nhân, bệnh đồng mắc và gánh nặng viêm mạn tính”).