Hiệu quả này được ghi nhận đồng nhất trên mọi giai đoạn bệnh thận mạn (CKD), mọi ngưỡng trị số huyết áp cũng như tình trạng protein niệu; tuy nhiên, các tác giả lưu ý rằng lợi ích bảo vệ tim mạch có xu hướng suy giảm ở nhóm bệnh nhân CKD kèm đái tháo đường típ 2.
Điều này nhấn mạnh sự cần thiết “for adapted therapeutic strategies in this high-risk subgroup,” (tạm dịch: “cần có các chiến lược điều trị được cá thể hóa cho phân nhóm nguy cơ rất cao này”), theo bài viết của TS. Milad Nazarzadeh (Đại học Oxford, Vương quốc Anh) và các cộng sự trên tạp chí The Lancet.
Nhằm lấp đầy khoảng trống dữ liệu trong quản lý biến cố tim mạch ở người bệnh CKD — đối tượng thường ít được đại diện trong các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng (RCT) về điều trị hạ áp — nhóm nghiên cứu của Nazarzadeh đã phân tích dữ liệu từ 285.124 người tham gia (59% là nam giới) trong 46 thử nghiệm RCT so sánh liệu pháp hạ áp với nhóm chứng.
Trong số này, 20,7% người bệnh đã có CKD từ thời điểm ban đầu, và 23,9% trong số các bệnh nhân CKD này đã tiến triển từ giai đoạn 3b trở lên (độ lọc cầu thận ước tính [eGFR] từ 30–44 hoặc <30 mL/phút/1,73 m²).
Tỷ lệ đồng mắc đái tháo đường típ 2 ở nhóm có CKD và không có CKD lần lượt là 30,5% và 30,1%.
Qua thời gian theo dõi trung vị 4,4 năm, có 12,8% trong tổng số 284.134 người có dữ liệu hoàn chỉnh xuất hiện các biến cố tim mạch chính (tiêu chí gộp gồm đột quỵ tử vong hoặc không tử vong, bệnh tim thiếu máu cục bộ, nhập viện do suy tim hoặc tử vong do suy tim).
Huyết áp ban đầu dao động trong khoảng trung bình từ 152/88 đến 156/86 mmHg. Kết quả phân tích gộp chỉ ra: mỗi mức giảm 5 mmHg huyết áp tâm thu giúp giảm có ý nghĩa thống kê 9% nguy cơ biến cố tim mạch chính ở bệnh nhân CKD. Ở người không mắc CKD, mức giảm nguy cơ tương ứng là 10%.
Phân tích phân nhóm cho thấy mức giảm nguy cơ tương đối duy trì tính nhất quán trên mọi giai đoạn CKD, bao gồm cả các giai đoạn muộn 4–5 (eGFR trung bình <25 mL/phút/1,73 m2), ở mọi phân độ huyết áp (kể cả khi mức huyết áp hạ xuống dưới 120/70 mmHg) cũng như không phụ thuộc vào tình trạng protein niệu.
Tuy vậy, khi phân tích theo tình trạng đái tháo đường, các nhà nghiên cứu ghi nhận việc hạ huyết áp chưa cho thấy hiệu quả giảm có ý nghĩa thống kê đối với nguy cơ biến cố tim mạch chính hay tử vong ở nhóm bệnh nhân đồng mắc cả CKD và đái tháo đường. Ngược lại, ở nhóm không mắc đái tháo đường, mỗi 5 mmHg huyết áp tâm thu giảm đi giúp giảm tới 12% nguy cơ biến cố tim mạch gộp (có ý nghĩa thống kê).
Nhằm tối ưu hóa việc kiểm soát nguy cơ ở bệnh nhân CKD kèm đái tháo đường, nhóm tác giả khuyến nghị “therapeutic regimens might require the integration of antihypertensives with agents such as [sodium–glucose cotransporter 2] inhibitors or [glucagon-like peptide-1] receptor agonists, which provide robust cardiorenal protection and enhance glycaemic regulation.” (tạm dịch: “phác đồ điều trị có thể cần tích hợp thuốc hạ áp với các nhóm thuốc như ức chế kênh đồng vận chuyển natri-glucose 2 [SGLT2i] hoặc đồng vận thụ thể peptide giống glucagon-1 [GLP-1 RA] – các nhóm thuốc mang lại hiệu quả bảo vệ tim-thận mạnh mẽ và tối ưu hóa kiểm soát đường huyết”).
Các nhà nghiên cứu cũng tiến hành đánh giá riêng rẽ hiệu quả điều trị theo từng nhóm thuốc: ức chế men chuyển (ACEi), chẹn thụ thể angiotensin (ARB), chẹn beta, chẹn kênh canxi và lợi tiểu thiazide.
Kết quả cho thấy tác động giảm thiểu nguy cơ tim mạch của từng nhóm thuốc hạ áp đều đồng nhất giữa người có và không có CKD. Tác giả khẳng định: “Consequently, class-specific evidence of cardiovascular protection from broader populations can be extrapolated to patients with CKD, including those at more severe stages,” (tạm dịch: “Do đó, các bằng chứng bảo vệ tim mạch theo nhóm thuốc từ quần thể chung hoàn toàn có thể ngoại suy sang bệnh nhân CKD, bao gồm cả những trường hợp ở giai đoạn bệnh tiến triển nặng”).
Nazarzadeh cùng các cộng sự kết luận: “When the main therapeutic goal is cardiovascular risk management, clinicians can recommend blood-pressure-lowering treatment to individuals at all stages of CKD progression, regardless of blood-pressure values, provided the balance of benefits and harms is favourable and patient preferences are considered.” (tạm dịch: “Khi mục tiêu điều trị hàng đầu là quản lý nguy cơ tim mạch, các bác sĩ lâm sàng có thể chỉ định liệu pháp hạ huyết áp cho người bệnh ở mọi giai đoạn tiến triển của CKD, bất kể trị số huyết áp ban đầu là bao nhiêu, miễn là cán cân lợi ích – nguy cơ ở mức thuận lợi và có cân nhắc đến nguyện vọng của người bệnh”).