“[P]atients with LUTS typically receive tadalafil on a continuous, daily basis” (tạm dịch: “Bệnh nhân có LUTS thường dùng tadalafil liên tục hàng ngày”), các tác giả nhận định, và “[t]his prolonged exposure may potentially amplify the medication’s cumulative effects on IOP [intraocular pressure] regulation and ocular blood flow” (tạm dịch: “việc phơi nhiễm kéo dài này có thể làm tăng tích lũy tác động của thuốc lên quá trình điều hòa nhãn áp [IOP] cũng như lưu lượng máu đến mắt”).
Nghiên cứu ghi nhận nam giới dùng tadalafil để điều trị LUTS có nguy cơ mắc glôcôm cao hơn rõ rệt so với những người chưa từng dùng thuốc nhóm PDE5i (tỷ số nguy cơ [HR] = 1,22). Cụ thể, nguy cơ tăng nhãn áp tăng (HR = 1,32), glôcôm góc mở nguyên phát tăng (HR = 1,33), đồng thời khả năng phải khởi đầu điều trị glôcôm bước một cũng cao hơn đáng kể (HR = 1,33) trong suốt 5 năm theo dõi.
“These findings do not contraindicate tadalafil use but highlight the importance of baseline ophthalmic assessment and regular follow-up, particularly in patients with pre-existing glaucoma, ocular hypertension, a family history of glaucoma, high myopia, or those requiring long-term therapy” (tạm dịch: “Những kết quả này không chống chỉ định việc dùng tadalafil, nhưng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thăm khám mắt ban đầu và theo dõi định kỳ, đặc biệt trên bệnh nhân đã có sẵn bệnh glôcôm, tăng nhãn áp, tiền sử gia đình mắc glôcôm, cận thị nặng hoặc những trường hợp phải điều trị kéo dài”), theo BS. Chien-Chih Chou (Bệnh viện Đại học Quốc gia Đài Loan, Đài Bắc) và các cộng sự.
Nghiên cứu quan sát này được công bố trên tạp chí British Journal of Ophthalmology, khai thác dữ liệu từ hệ thống cơ sở dữ liệu đa quốc gia TriNetX ở nam giới từ 40 tuổi trở lên có tiền sử LUTS bắt đầu điều trị từ tháng 1/2012 đến tháng 12/2022. Quần thể nghiên cứu được phân loại thành nhóm dùng tadalafil và nhóm chưa từng sử dụng PDE5i, sau đó ghép cặp theo điểm xu hướng (propensity score matching) dựa trên các biến số: tuổi, chủng tộc, tiền sử hút thuốc, sử dụng rượu bia, bệnh đồng mắc, mức lọc cầu thận và các thuốc phối hợp. Độ tuổi trung bình của đối tượng tham gia là 62 tuổi và đa số (71–72%) là người da trắng.
Sau 5 năm theo dõi, tỷ lệ tích lũy mắc glôcôm ở 36.927 nam giới nhóm dùng tadalafil là 3,93%, cao hơn có ý nghĩa thống kê so với mức 3,16% ở 36.927 người thuộc nhóm không dùng thuốc PDE5i.
Sự gia tăng tỷ lệ tích lũy có ý nghĩa thống kê giữa nhóm dùng tadalafil so với nhóm chứng cũng được ghi nhận ở biến cố tăng nhãn áp (0,61% so với 0,47%), glôcôm góc mở nguyên phát (0,59% so với 0,43%) và tỷ lệ phải khởi trị glôcôm (2,76% so với 2,05%). Tuy nhiên, nghiên cứu không ghi nhận sự gia tăng nguy cơ có ý nghĩa đối với glôcôm nhãn áp bình thường hay glôcôm góc đóng nguyên phát.
Phân tích dưới nhóm cho thấy nguy cơ mắc glôcôm liên quan đến tadalafil chỉ có ý nghĩa lâm sàng ở nam giới từ 50 tuổi trở lên (HR = 1,29), không thấy ở nhóm 40–50 tuổi; đồng thời nguy cơ này có ý nghĩa ở nam giới da trắng (HR = 1,16) nhưng không ghi nhận ở người da đen hay người gốc Á.
Ngoài ra, mối liên quan giữa việc sử dụng tadalafil và gia tăng nguy cơ glôcôm vẫn giữ vững ý nghĩa thống kê bất kể các bệnh lý đi kèm như tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, béo phì và bệnh thận mạn, cũng như sau khi đã loại trừ những bệnh nhân mới phát hiện glôcôm trong vòng 1, 3 hoặc 6 tháng đầu sau khi khởi trị tadalafil.
Nhóm nghiên cứu cũng thẳng thắn nhìn nhận: “although an IOP-related mechanism remains biologically plausible, the observational design of the present study cannot confirm an effect on IOP, nor distinguish the contribution of optic nerve hypoperfusion to the observed association” (tạm dịch: “mặc dù cơ chế biến đổi nhãn áp hoàn toàn hợp lý về mặt sinh học, thiết kế nghiên cứu quan sát hiện tại chưa thể khẳng định tác động trực tiếp lên nhãn áp, cũng như chưa phân định được vai trò của tình trạng giảm tưới máu thị thần kinh đối với mối liên quan này”).
Do đó, các tác giả khuyến nghị: “[f]uture studies incorporating concurrent IOP and ocular perfusion measurements […] to elucidate the underlying mechanisms” (tạm dịch: “Các nghiên cứu tương lai cần phối hợp đo đồng thời nhãn áp và mức tưới máu tại mắt […] nhằm làm sáng tỏ cơ chế bệnh sinh tiềm ẩn”).