Trên tạp chí The New England Journal of Medicine, các nhà nghiên cứu báo cáo rằng lợi ích này được ghi nhận ở cả nhóm mang đột biến ESR1 lẫn dân số chung của thử nghiệm. Tuy nhiên, họ cũng thận trọng lưu ý rằng: “these results must be interpreted in the context of the trial design that enriched the trial enrollment for patients with ESR1-mutated tumors and the absence of an apparent benefit […] in the exploratory population of patients without detectable ESR1 mutations” (tạm dịch: “các kết quả này cần được diễn giải trong bối cảnh thiết kế nghiên cứu ưu tiên tuyển chọn nhóm bệnh nhân có khối u mang đột biến ESR1, đồng thời chưa thấy lợi ích rõ rệt […] ở phân nhóm thám sát không phát hiện đột biến ESR1”).

Giới thiệu về cơ sở nghiên cứu evERA, TS. Erica Mayer (Viện Ung thư Dana-Farber, Boston, Massachusetts, Hoa Kỳ) cùng cộng sự giải thích rằng: dù phác đồ phối hợp thuốc ức chế CDK4/6 và liệu pháp nội tiết “is the standard approach worldwide” (tạm dịch: “là tiếp cận chuẩn trên toàn cầu”) đối với ung thư vú tiến triển ER+, HER2-, nhưng khi bệnh tiến triển, “effective treatment options remain limited, and responses to subsequent endocrine-based therapies are often not durable” (tạm dịch: “các lựa chọn điều trị hiệu quả tiếp theo vẫn còn rất hạn chế, và đáp ứng với các liệu pháp nội tiết kế tiếp thường không kéo dài”).

Do đó, nhóm nghiên cứu đã tiến hành đánh giá giredestrant – “a potent new oral selective ER degrader (SERD)” (tạm dịch: “thuốc thoái giáng thụ thể estrogen chọn lọc [SERD] đường uống thế hệ mới có hoạt lực mạnh”) có khả năng “robustly suppresses ER activity, regardless of ER mutational status, and was shown to be more potent than fulvestrant and other new oral SERDs in cellular viability assays” (tạm dịch: “ức chế mạnh mẽ hoạt tính của ER bất kể tình trạng đột biến ER, đồng thời chứng minh hiệu lực vượt trội hơn fulvestrant và các SERD đường uống thế hệ mới khác trong các xét nghiệm sống còn tế bào”).

Nghiên cứu thu nhận bệnh nhân nữ ở mọi tình trạng mãn kinh và bệnh nhân nam mắc ung thư vú tiến triển tại chỗ hoặc di căn, ER+, HER2- đã qua điều trị trước đó. Bệnh nhân được phân ngẫu nhiên dùng everolimus uống 10 mg/ngày kết hợp với giredestrant uống 30 mg/ngày (n=183) hoặc liệu pháp nội tiết chuẩn (lựa chọn của nghiên cứu viên gồm exemestane, fulvestrant hoặc tamoxifen; n=190). Hơn 98% đối tượng tham gia là nữ, độ tuổi trung vị từ 60–62 tuổi ở các nhánh nghiên cứu, trong đó có 30–40% người bệnh từ 65 tuổi trở lên.

Thời gian theo dõi trung vị lần lượt là 18,4 tháng ở nhánh giredestrant và 18,7 tháng ở nhánh nội tiết chuẩn.

Khoảng 55% bệnh nhân ở mỗi nhóm có đột biến ESR1. Ở phân nhóm này, PFS trung vị theo đánh giá của nghiên cứu viên đạt 10,0 tháng ở nhánh giredestrant phối hợp everolimus so với 5,5 tháng ở nhánh nội tiết chuẩn phối hợp everolimus. Mức chênh lệch có ý nghĩa thống kê với tỷ số nguy cơ (HR) đối với tiến triển bệnh hoặc tử vong là 0,38 nghiêng về thuốc SERD thế hệ mới.

Kết quả ghi nhận tương tự trên toàn bộ dân số nghiên cứu: PFS trung vị ở nhóm giredestrant và nhóm nội tiết chuẩn lần lượt là 8,8 tháng và 5,5 tháng (HR đối với tiến triển hoặc tử vong đạt 0,56 có ý nghĩa thống kê). Tuy nhiên, phân tích thám sát trên nhóm bệnh nhân không có biến đổi gen ESR1 cho thấy thời gian PFS trung vị tương đương nhau, lần lượt là 5,7 tháng và 5,5 tháng.

Nhóm tác giả nhận định: “Data for the analysis of overall survival [OS] were immature at the time of [this] interim analysis” (tạm dịch: “Dữ liệu phân tích thời gian sống còn toàn bộ [OS] chưa chín muồi tại thời điểm phân tích giữa kỳ [này]”), nhưng các kết quả bước đầu cho thấy xu hướng ủng hộ việc sử dụng giredestrant. Cụ thể, tỷ lệ OS ước tính tại thời điểm 18 tháng ở phân nhóm đột biến ESR1 đạt 71,5% ở nhóm giredestrant so với 50,9% ở nhóm nội tiết chuẩn; các tỷ lệ tương ứng trong toàn bộ dân số nghiên cứu là 75,1% so với 62,0%.

Safety was as expected

TS. Mayer và cộng sự báo cáo rằng: “[t]he safety profile of giredestrant–everolimus was consistent with the known safety profiles of the individual trial agents, and the safety profile was similar in the two treatment groups with no unexpected findings” (tạm dịch: “Đặc tính an toàn của phác đồ giredestrant–everolimus phù hợp với hồ sơ an toàn đã biết của từng hoạt chất đơn lẻ, đồng thời độ an toàn giữa hai nhóm điều trị là tương đương và không ghi nhận biến cố bất thường nào”).

Biến cố bất lợi (AE) thường gặp nhất ở cả hai nhánh giredestrant và nội tiết chuẩn là viêm miệng – triệu chứng mà nhóm nghiên cứu chỉ ra rằng “is commonly associated with everolimus therapy” (tạm dịch: “thường liên quan đến liệu pháp everolimus”). Tỷ lệ viêm miệng mọi mức độ lần lượt là 47,3% và 48,9% người bệnh.

Tiêu chảy và thiếu máu là các AE phổ biến tiếp theo; tỷ lệ xuất hiện ở mọi mức độ giữa nhánh giredestrant và nhánh nội tiết chuẩn lần lượt là 26,9% so với 22,6% đối với tiêu chảy, và 23,6% so với 21,0% đối với thiếu máu.

Xét về các AE cần quan tâm đặc biệt từng được ghi nhận với các thuốc SERD đường uống khác, nhịp tim chậm xảy ra ở 3,8% bệnh nhân nhánh giredestrant và 0,5% ở nhánh nội tiết chuẩn, nhưng toàn bộ đều ở độ 1 và không ghi nhận trường hợp nào xuất hiện biến cố chớp sáng (photopsia).

Các nhà nghiên cứu thử nghiệm evERA kết luận rằng: “[t]he giredestrant–everolimus combination has the advantage of targeting two distinct signaling pathways, providing improved efficacy” (tạm dịch: “Phác đồ phối hợp giredestrant–everolimus có ưu thế nhắm trúng hai con đường dẫn truyền tín hiệu riêng biệt, nhờ đó nâng cao hiệu quả điều trị”).

Ngoài ra, nhóm nghiên cứu cho biết thêm: “this all-oral regimen could reduce treatment burden by eliminating injections and reducing hospital visits” (tạm dịch: “phác đồ hoàn toàn dùng đường uống này có thể giảm bớt gánh nặng điều trị nhờ loại bỏ nhu cầu tiêm thuốc và giảm số lần tái khám tại bệnh viện”).