Thử nghiệm quốc tế pha 3 CORALreef Lipids được tiến hành trên 2.904 đối tượng (độ tuổi trung bình 63; 61% là nam giới) có nồng độ LDL-C từ 55,0 mg/dL (1,4 mmol/L) trở lên kèm tiền sử biến cố tim mạch do xơ vữa (ASCVD) lớn, hoặc có LDL-C từ 70 mg/dL (1,8 mmol/L) trở lên kèm nguy cơ từ trung bình đến cao mắc hội chứng vành cấp, tái thông mạch vành, nhồi máu cơ tim, đột quỵ thiếu máu cục bộ, tái thông động mạch cảnh/não hoặc bệnh động mạch ngoại biên.
Tại thời điểm ban đầu, nồng độ LDL-C trung bình của quần thể nghiên cứu là 96,1 mg/dL (2,5 mmol/L) và có tới 96,6% bệnh nhân đang được điều trị bằng statin.
GS. Ann Navar (Trung tâm Y khoa Southwestern, Đại học Texas, Dallas, Hoa Kỳ) cùng các cộng sự báo cáo trên tạp chí The New England Journal of Medicine rằng, sau 24 tuần điều trị, nhóm 1.935 bệnh nhân được phân ngẫu nhiên dùng enlicitide liều 20 mg/ngày ghi nhận mức giảm trung bình 57,1% nồng độ LDL-C.
Ngược lại, ở nhóm 969 người dùng giả dược, nồng độ LDL-C lại tăng 3,0% sau 24 tuần so với ban đầu. Mức chênh lệch hiệu chỉnh giữa hai nhóm đạt 55,8 điểm phần trăm nghiêng về phía enlicitide một cách rõ rệt, sau khi đã chuẩn hóa theo nồng độ LDL-C nền, chức năng thận và khu vực địa lý.
Mức giảm phần trăm trung bình của LDL-C tại tuần thứ 52 ở nhóm dùng enlicitide cũng vượt trội có ý nghĩa thống kê so với giả dược (–50,4% so với 4,0%). Tương tự, mức cải thiện đáng kể cũng được ghi nhận trên các chỉ số lipid khác như non-HDL-C (–53,7% so với 2,6%), apolipoprotein B (–49,6% so với 2,9%) tại tuần 52 và nồng độ trung vị lipoprotein(a) tại tuần 24 (–29,0% so với 0,0%).
Đáng chú ý, tỷ lệ bệnh nhân đạt các mục tiêu kiểm soát lipid nghiêm ngặt theo khuyến cáo lâm sàng ở nhánh enlicitide cao hơn vượt trội so với nhánh giả dược: tỷ lệ đạt LDL-C dưới 70 mg/dL kèm mức giảm ≥ 50% so với ban đầu là 70,3% so với 1,5%, và tỷ lệ đạt LDL-C dưới 55 mg/dL kèm mức giảm ≥ 50% đạt 67,5% so với 1,2%.
Enlicitide không làm gia tăng biến cố bất lợi
Về độ an toàn, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tần suất xuất hiện các biến cố bất lợi (AE) giữa hai nhánh nghiên cứu. Biến cố bất lợi nghiêm trọng được ghi nhận ở 9,9% bệnh nhân nhóm enlicitide và 12,0% nhóm giả dược; tỷ lệ phải ngừng thuốc do biến cố bất lợi lần lượt là 3,1% và 4,1%. Tỷ lệ mới khởi phát hoặc làm nặng thêm đái tháo đường—một tiêu chí đánh giá an toàn trọng tâm được xác định trước—cũng tương đương giữa hai nhóm (6,1% so với 5,8%).
Nhóm tác giả của GS. Navar nhấn mạnh: “Observational data and simulation studies have shown that approximately 40% of adults with atherosclerotic cardiovascular disease will need additional LDL cholesterol–lowering therapies beyond statins and ezetimibe to bring LDL cholesterol levels to the target range of less than 55 mg per deciliter,” (tạm dịch: “Các dữ liệu quan sát và nghiên cứu mô phỏng cho thấy khoảng 40% người trưởng thành mắc bệnh tim mạch do xơ vữa sẽ cần phối hợp thêm các liệu pháp hạ lipid máu ngoài statin và ezetimibe để đưa nồng độ LDL-C về ngưỡng mục tiêu dưới 55 mg/dL”).
Các tác giả kết luận: “Enlicitide has the potential to help reach lipid goals in patients with a history of cardiovascular events and those at risk for cardiovascular events and ultimately to help address the ongoing cardiovascular disease epidemic.” (tạm dịch: “Enlicitide có tiềm năng lớn trong việc hỗ trợ đạt mục tiêu lipid máu ở những người bệnh có tiền sử hoặc có nguy cơ gặp biến cố tim mạch, qua đó đóng góp tích cực vào nỗ lực kiểm soát gánh nặng bệnh tim mạch hiện nay”).
Trong bài xã luận đi kèm, GS. William Boden từ Trường Y Chobanian & Avedisian thuộc Đại học Boston (Massachusetts, Hoa Kỳ) nhận định: “These are important findings of distinct clinical relevance to the current era of therapies for dyslipidemia.” (tạm dịch: “Đây là những phát hiện mang ý nghĩa lâm sàng quan trọng trong kỷ nguyên điều trị rối loạn lipid máu hiện nay”).
Ông chia sẻ thêm: “Such a once-daily oral PCSK9 inhibitor that is both safe and effective in augmenting LDL cholesterol lowering and potent reductions in other lipid-related markers, including non-HDL cholesterol, apolipoprotein B, and lipoprotein(a), is a potentially promising addition to our therapeutic armamentarium, but whether enlicitide further reduces atherosclerotic cardiovascular disease events remains unknown.” (tạm dịch: “Một thuốc ức chế PCSK9 dạng uống dùng một lần mỗi ngày vừa an toàn vừa hiệu quả trong việc thúc đẩy hạ LDL-C, đồng thời làm giảm mạnh các chỉ dấu sinh học lipid khác như non-HDL-C, apolipoprotein B và lipoprotein(a), là một bổ sung đầy hứa hẹn vào kho vũ khí điều trị của chúng ta. Tuy nhiên, liệu enlicitide có làm giảm sâu hơn nữa các biến cố tim mạch do xơ vữa hay không thì vẫn chưa được xác định”).
GS. Navar và các cộng sự cũng lưu ý rằng hiệu quả giảm biến cố tim mạch thực tế của enlicitide thông qua việc hạ LDL-C “is being tested in the ongoing CORALreef Outcomes trial, with a projected completion date of December 2029.” (tạm dịch: “hiện đang được đánh giá trong thử nghiệm CORALreef Outcomes, dự kiến sẽ hoàn tất vào tháng 12 năm 2029”).