Công bố trên tạp chí JAMA Network Open, TS. Leah Rubin (Đại học Johns Hopkins, Baltimore, Maryland) cùng các cộng sự cho biết các phát hiện của họ “suggest that HPA axis modulation may represent a therapeutic pathway for cognitive dysfunction in HIV.” (tạm dịch: “gợi ý rằng điều hòa trục HPA có thể mở ra một hướng tiếp cận điều trị mới cho tình trạng rối loạn chức năng nhận thức ở người nhiễm HIV.”)
Nhóm nghiên cứu giải thích rằng phụ nữ nhiễm HIV thường có tỷ lệ gặp các sang chấn tâm lý, căng thẳng mạn tính và trầm cảm cao – đây đều là những yếu tố liên quan trực tiếp đến suy giảm nhận thức. Trong đó, rối loạn điều hòa trục HPA đã được chứng minh đóng vai trò trung tâm kết nối giữa căng thẳng mạn tính, các triệu chứng tâm thần và suy giảm chức năng nhận thức.
Do đó, Rubin và cộng sự đã tiến hành đánh giá liệu hydrocortisone liều thấp – một hoạt chất điều hòa dược lý chức năng trục HPA – có thể cải thiện nhận thức trên 81 phụ nữ (độ tuổi trung bình 55) nhiễm HIV đã ức chế virus hay không. Tại thời điểm ban đầu, các đối tượng tham gia đều ghi nhận tình trạng stress mức độ cao và/hoặc có rối loạn khí sắc, rối loạn lo âu; 72% có suy giảm trí nhớ và 51% có suy giảm khả năng học tập.
Nghiên cứu được thiết kế bắt chéo gồm hai giai đoạn, các đối tượng tham gia được phân ngẫu nhiên vào một trong bốn trình tự điều trị.
Ở giai đoạn đầu, người tham gia được chỉ định ngẫu nhiên dùng một liều đơn hydrocortisone 10 mg đường uống hoặc giả dược, sau đó thực hiện các bài đánh giá nhận thức tại thời điểm 30 phút và 4 giờ sau dùng thuốc. Sau giai đoạn rửa trôi (washout) kéo dài 30 ngày, các đối tượng được chuyển sang nhánh can thiệp còn lại và tiến hành đánh giá lại.
Trong giai đoạn thứ hai, người tham gia tiếp tục duy trì phác đồ hydrocortisone hoặc giả dược, hoặc bắt chéo sang phác đồ đối chứng trong 4 tuần tiếp theo trước khi làm lại các kiểm tra nhận thức.
Hydrocortisone liều đơn giúp cải thiện sự chú ý và khả năng học ngôn ngữ
Nhóm nghiên cứu ghi nhận tại thời điểm 30 phút, khả năng chú ý (đánh giá qua bài tập chuỗi chữ – số Letter-Number Sequencing) ở nhóm dùng liều đơn hydrocortisone cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm dùng giả dược, với điểm trung bình đạt 13,3 so với 12,7 điểm (thang điểm 0–24).
Sự khác biệt về điểm số chú ý giữa nhóm can thiệp bằng hydrocortisone và giả dược vẫn duy trì có ý nghĩa thống kê tại thời điểm 4 giờ (13,6 so với 12,9 điểm).
Cũng tại mốc thời gian này, nhóm dùng hydrocortisone đạt điểm tổng khả năng học tập cao hơn đáng kể trong Thang đo Học ngôn ngữ Hopkins hiệu chỉnh (HVLT-R), đạt 18,5 so với 17,4 điểm (thang điểm 0–36), đồng thời ghi nhận xu hướng cải thiện khả năng nhớ lại có trì hoãn dù chưa đạt ý nghĩa thống kê (3,7 so với 3,1 điểm trên thang điểm 0–12).
Hydrocortisone liều thấp dùng hàng ngày có thể cải thiện khả năng nhớ lại
Sau 4 tuần điều trị hàng ngày, mức độ cải thiện khả năng nhớ lại có trì hoãn so với thời điểm ban đầu đã đạt ý nghĩa thống kê ở nhóm dùng hydrocortisone (5,2 so với 4,1 điểm), trong khi không ghi nhận thấy ở nhóm dùng giả dược (5,8 so với 5,3 điểm); tuy nhiên, phân tích tương tác giữa phác đồ điều trị và thời gian lại không có ý nghĩa thống kê.
Mặc dù vậy, các nhà nghiên cứu nhận định: “Although modest in magnitude, the improvement in delayed recall corresponds to a clinically meaningful shift in performance (eg, an increase from the 10th to the 22nd percentile based on demographically adjusted [Women’s Interagency HIV Study] normative data), despite performance remaining below demographically adjusted norms.” (tạm dịch: “Dù mức độ cải thiện còn khiêm tốn, sự tiến triển trong khả năng nhớ lại có trì hoãn vẫn mang ý nghĩa lâm sàng đáng kể (ví dụ như mức tăng từ phân vị thứ 10 lên phân vị thứ 22 theo dữ liệu chuẩn hiệu chỉnh theo nhân khẩu học của Nghiên cứu Liên cơ quan về HIV ở Phụ nữ [WIHS]), cho dù hiệu suất tổng thể vẫn thấp hơn mức chuẩn này.”)
Nhóm nghiên cứu quan sát thấy hiệu quả điều trị đối với sự chú ý và khả năng học ngôn ngữ không duy trì được khi dùng thuốc liên tục hàng ngày. Ngoài ra, không ghi nhận tác dụng điều trị có ý nghĩa tại bất kỳ thời điểm nào đối với trí nhớ làm việc (working memory) và khả năng thị giác không gian, cũng như chức năng điều hành trong giai đoạn một. Chức năng điều hành có cải thiện đáng kể sau đợt điều trị hàng ngày, nhưng mức độ tiến triển là tương đương giữa nhóm hydrocortisone và nhóm giả dược.
Cơ chế tác động vẫn chưa rõ ràng
Đáng chú ý, các phân tích về cơ chế không tìm thấy mối liên quan nào giữa lợi ích nhận thức quan sát được với nồng độ cortisol trong nước bọt, các dấu ấn sinh học gây viêm, chức năng thụ thể glucocorticoid, kiểu hình miễn dịch hay các ổ dự trữ HIV.
“These null findings suggest that either the relevant biological processes were not captured in the periphery or that central neural targets, rather than circulating markers, may mediate [low-dose hydrocortisone’s] cognitive effects.” (tạm dịch: “Các kết quả không có ý nghĩa này gợi ý rằng hoặc các quá trình sinh học liên quan không được phản ánh rõ ở tuần hoàn ngoại vi, hoặc các đích tác động thần kinh trung ương – chứ không phải các dấu ấn lưu hành trong máu – mới là yếu tố trung gian điều hòa tác dụng cải thiện nhận thức của hydrocortisone liều thấp.”)
Rubin và các đồng nghiệp kết luận rằng các phát hiện của họ “support continued investigation of stress-system modulation in larger, adequately powered trials.” (tạm dịch: “ủng hộ việc tiếp tục nghiên cứu hướng can thiệp điều hòa hệ thống đáp ứng stress trong các thử nghiệm lâm sàng có quy mô mẫu lớn hơn và đủ lực lượng thống kê.”)
Họ nhấn mạnh thêm: “Larger studies integrating neuroimaging and multiomic measures would delineate durable effects and identify subgroups most likely to benefit.” (tạm dịch: “Các nghiên cứu quy mô lớn hơn, kết hợp giữa chẩn đoán hình ảnh thần kinh và các phân tích đa tầng omics, sẽ giúp làm sáng tỏ tính bền vững của hiệu quả điều trị cũng như xác định được những phân nhóm bệnh nhân có khả năng hưởng lợi nhiều nhất.”)